Minh Đăng Quang Pháp Giáo

 

Buổi Thiếu Thời Tầm Đạo & Nghiệp Lực

CHƯƠNG II

Nhiều lần xin gia đ́nh để được ĺa nhà đi tu tầm sư học đạo, thân phụ không cho, vào một buổi tối kia với tuổi 15 NGUYỄN THÀNH ĐẠT trốn gia tộc và thânn phụ đi Nam Vang thuộc xứ Cao Miên tầm thầy học đạo tu thân. Một nhà sư người Việt lai Miên ở tu nơi xứ cao Miên có đạo pháp cao siêu về các môn thuật thần phù bùa ngải... Nơi đây là chỗ nương nhờ tu học buổi đầu tiên, nhà học đạo được sự nhồi quả kiếp trên đường tu hoặc nghiệp, do ông thầy nhồi nắn thử thách tánh kiên nhẫn và hạnh nguyện, sự công quả chí thành của nhà học đạo làm xong mỗi lúc như đào đất bửa củi, làm ruộng coi rẫy, làm vôi, có lần đào giếng ở bên mé núi 18 thước bề sâu chỉ có một ḿnh.

Một thời gian vừa làm công quả vừa nhẫn tu do sự kinh nghiệm lần nhận xét trên đường học đạo tu thân của ḿnh, và cai quản tạo tác sự nghiệp của thầy giao cho mà chán ngán, gẫm cảnh đời giả tạm, ḷng từ bi thúc đẩy, thấy những người làm ăn xa nhà cách xứ v́ thiếu thốn khổ sở rách rưới mà thường khi đau khổ. Mấy chục trong số hàng trăm người làm về công nghệ sở ḷ vôi và sở rẫy lần lần được cung cấp cả tiền bạc lẫn áo quần cho trở về xứ. Một cửa hàng tạp hóa mà thầy giao cho cai quản cũng được đem ra rbố thí từ lần hết, tiêu tán gia nghiệp của thầy cố công đào tạo từ lâu. Và sau đó NGUYỄN THÀNH ĐẠT, xin thầy để trở về Nam Việt. Bốn năm ở xứ Cao Miên trở về nhà song thân, một cô gái v́ ân nghĩa cứu tử nên t́nh nguyện theo nâng khăn sửa túi để đáp nghĩa cho họ Nguyễn này. Cô nguyện tùng theo và được hai bên cho kết hôn, cô tên Kim Huê là con gái nuôi Hội Đồng Nhiều, người tỉnh Chợ Lớn.

Trong thời gian này người về ở đất Sai G̣n, có giúp làm thư kư và tài chnhs cho một hăng buôn lớn, nhà hàng Nguyễn Văn Trận Sài G̣n được sự tín nhiệm, kư thác thâu xuất quản sự do ḷng chơn chánh khiết bạch của người. Đối với sự lịch lăm và hạnh phúc của Người, có thể nói như hoa vừa tươi nở buổi rạng đông đượm thắm sương mai, và hảnh diện khoe màu cùng tia nắng sớm, nhưng nếu trên khoản đường đời suôi thuận ấy mà dong ruổi th́ chắc có đâu được những ḍng sử sau này. Có câu:

Trăm năm trong cơi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trăi qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng. (Kiều)

Vợ người mang thai đến kỳ khai hoa, nở sanh một gái đặt tên là Nguyễn Kim Liên; sau khi sanh người mẹ chết.

Vợ chết nên người thôi làm việc trở về, đứa bé gái này được gởi cho ông bà nội nuôi thay và đến ba tuổi cũng chết luôn. Theo lời thân phụ của người thuật lại th́ lúc này, người có nhiều thái độ khác thường như ngồi thở ra trầm mặc cả đôi giờ không cử động, hoặc nh́n lâu xa nơi chân trời đăm đăm đôi mắt; hay ngưỡng lên hư không như khẫn cầu chi; và ít khi nói chuyện.

Mùi thiền đă bén muối dưa

Màu thiền ăn mặc đă ưa nâu ṣng

Sự đời đă tắt lửa ḷng

C̣n chen vào đám bụi hồng làm chi

Dỡ dang nào có hay ǵ

Đă tu tu trót kiếp th́ th́ thôi (Kiều)

Thời gian nung đúc uống nắn, nghiệp quả cộng dồn, mà cũng là đê thchs đố cùng Bồ Tát cái hạnh nguyện nhắc cho người nhớ thấy cảnh vô thường, "Cảnh t́nh ái hà danh lợi khách, Hoán hồi khổ hải mộng mê nhơn" một kiếp phù du xao xá ví con người giả tạm, ái t́nh mong manh. Một ư chí đanh thép bùng cháy trong người bước đường giải thoát thúc đẩy, mấy tháng, sau cảnh tang thương, ḷng Bồ Tát quyết trốn nhà ra đi lần thứ hai. Thân phụ hay tin theo bắt, nhưng người cha phải ưng ḷng cho con lê bước trên đường đi t́m đạo quả chơn lư hạnh phúc của con người mà chỉ có mỗi người ḿnh do nơi căn số sắp đặt, ḷng người chí quyết và nói: "đi tu núi hoặc xuống hang tu luôn không về". Thế là Bồ Tát  ôm nguyện vọng ra đi, một phương trời vô định (lúc đi Hà Tiên Phú Quốc, Ngài định đi luôn ra ngoại quốc, nhưng đến trễ tàu bườm đă chạy hết, Ngài t́m nơi thanh vắng, những hón đá cao nơi mé biển ngồi tu nhập định trong bảy ngày, cùng quán xét nhân duyên). Vào một buổi chiều Ngài ngộ đạo ngay sau khi thấy những chiếc thuyền đánh cá bấp bênh trên mặt nước làn sóng biển, bọt nước dập dồn tụ tán, Ngài đạt lư vô thường, khổ năo, vô ngă, cảnh khổ trầm luân, đầy vơi, có không, c̣n mất, sống chết, khổ vui, xoay tṛn quẩn lộn. Ngài đạt được lư đạo. Và kỷ niệm bước đường hoằng hóa thuyết pháp độ sanh, bài pháp "Thuyền Bát hă" là tiêu chuẩn cho nền đạo phấp của Ngài từ cửa miệng phát ra trước nhất.

Thấy nơi đây cũng như khi xưa dưới cội Bồ Đề đức Phật đạt được lư sanh diệt của bổn tâm, mà bày ra pháp "Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo" lư luân hồi luật nhân quả

Hay như Đức Khổng Tử trông nh́n những xoáy nước guộn trên mặt nước ḍng sông mà xướng ra thuyết "Luật dịch hóa" lẽ biến chuyển vô thường.

Cùng là Đức Lăo Tử trơ ḿnh ngồi nghe lắng tiếng nói của hư không, gió lùa bàn tán, mây chạy đem tin, ḍm xem đọc học nơi cây cỏ, đất đá núi sông, tưởng nhớ về thời gian, không gian vô cùng tận, Ngài đạt được lư "tự nhiên" (Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên; Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên - Người tuân phép đất, đất tuân phép Trời, Trời tuân phép đạo, đạo tuân phép tự nhiên).

Mỗi vị Giáo chủ, Đạo Tổ đều có những thuyết do ḿnh ngộ đạt đề xướng; và làm căn bản cho sự truyền đạo, giáo dân, tuy thời gian đă qua và bản chất măi c̣n ở nơi ḷng người, sống cùng muôn loại vậy.

Thực hiện: TN. Chung Liên

 

Minh Đăng Quang Pháp Giáo