M.Đ.Q. Pháp Giáo

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG III

LỄ TỰ TỨ VÀ CÔNG HẠNH MÔN ĐỒ

Tháng bảy Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân

    Tăng Ni xuất gia nhập đạo thọ giới Khất sĩ y bát có số đông, đức thầy Minh -Đăng- Quang dạy chia nhau hành đạo suốt năm khắp nơi , tu thiền định khắp núi non ,am cốc tịnh xá v.v...

Theo lệ Phật xưa thầy dạy mỗi năm vào mùa vu lan tháng bảy phải gom hội về chung một nơi để thầy dạy đạo, kiểm điểm giới hạnh đọc luật sám hối lẫn nhau , và tiện việc tín đồ cư gia, thân nhân quyến thuộc đến thăm viếng ,cũng là để thay đổi y bát cùng tính tuổi đạo, gọi ngày hoan hỷ vu lan và tự tứ tăng.

    Lần đầu tiên giáo pháp Khất sĩ Minh-Đăng-Quang nhập hạ tại Kỳ Viên Tự Saigon có hơn hai mươi tăng ni nhằm năm 1948.

Năm 1949-50-51 tự tứ Vĩnh long

Năm 1952- tự tứ tại tỉnh Sa- Đéc

    Năm 1953-tự tứ tại Vĩnh-Long và đến đầu tháng 2 năm 1954 Đức thầy Mimh-Đăng-Quang vắng mặt đến  ngày nay .

Năm 1954 tự tứ tại Ngọc Viên  (Vĩnh-Long)

Năm 1955 tự tứ tại ngă bảy (Cần-Thơ)

Năm 1956 tự tứ tại G̣-Công

Năm 1957 tự tứ tại Tây- Ninh

Năm 1958 tự tứ tại Cần-Thơ

Năm 1959 tự tứ tại Biên- hoà

Năm 1960 tự tứ tại Vĩnh-B́nh

    Nhắc lại lúc đức thầy M.Đ.Q c̣n dạy đạo hiện tại, trong mùa cúng vu lan tự tứ vào ngày rằm tháng bảy mỗi năm. Thầy cùng chư tăng ni để tâm thanh, bụng trống không làm lễ, sau khi cúng dường đọc kinh chú nguyện cầu siêu, cầu an cho bá tánh vạn dân xong bèn hồi hướng bữa cơm ngọ ngày ấy lại cho bá tánh chia nhau hưởng dùng. Ngày đó Thầy và chư tăng nhịn ăn, chỉ uống nước mà thôi. Mùa tự-tứ tăng 1953 là đánh dấu sáu năm hành đạo đức sư trưởng M.Đ.Q. vị khai sáng giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam. Cuộc lễ Tự-tứ được Bành-trướng to tát sau đó v́ một sự bí mật mà đức Ngài vắng mặt đến ngày nay (1960)

    Cuộc lễ Tự-tứ năm canh tư (1960) đánh dấu 13 năm xuất hiện giáo Khất-sĩ Y bát Minh-Đăng-Quang, Ư nghĩa cuộc lễ là kiểm điểm hạnh đức,giới luật đạo quả cùa từng vị xuất gia Khất sĩ để ghi vào sổ đạo thêm một tuổi, một năm sống an lành trong sạch và theo luật giới nhà phật..

    Đứng ngoài ḍm vào chúng ta thấy một hạnh tu, một màu sắc y bát,đầu trần chân không, phủi sạch tóc râu danh quyền thế lợi, b́nh đẳng về xác thân,ngày ăn một bữa cơm nằm ngồi một chổ, mặt một bộ y chăn ba cái đều như nhau, chỉ một tiếng khất sĩ (thầy tu) nhưng thứ lớp trật tự trong nhà đạo cho ta thấy những vị tu lâu, xuất gia trước th́ đi trước, ngồi trước và tuổi đạo sau là tiếp theo sau.

    Tỳ kheo là bậc Khất sĩ đă được trên 2 năm nhập đạo làm Sa di, Giáo hội xét ra đủ giới luật hạnh kiểm oai nghi có thể thọ giới cụ túc (tăng 250 giới hoặc ni 348 giới) để vào hàng b́nh đẳng tịnh hạnh tự tứ trị lấy ḿnh, và có thể làm gương cho người sau cùng cũng như sự thay mặt một phần nào cho giáo hội truyền bá đạo lư cho cư sĩ...

    Sa di là hạnh Khất sĩ tập lần xin ăn tu học giữ 10 giới và theo một ông thầy Tỳ kheo mà nưnương nhờ sự dạy dỗ học hành và từ lần cho thân tâm trí tánh...

    Và tập sự là các nhà sư mới phát tâm cầu đạo tập xuất gia c̣n mặc quần áo nâu hoặc vàng chớ chưa có y bát, đi theo mấy vị Khất sĩ vừa làm công quả vừa xét ḿnh ḍ đường lối tu học, coi có đủ thiện căn nhơn duyên ĺa đời học đạo, dứt các sự luyến ái tríu mê ḷng phàm thế tục, phải vượt qua giai đoạn thử ḷng ăn chay niệm Phật .v.v..Đến khi thấy ḿnh được vững tâm, cùng dứt khoát các nhân duyên gia đ́nh xă hội mới được thọ giới xuất gia Khất sĩ.

    Chơn lư Khất sĩ, giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, trăi qua nhiều giai đoạn cam go chịu đựng, chống trả với bao nhiêu thành kiến tôn giáo đảng phái, của toàn xứ cũng như ngoại đạo. Đức tổ sư Minh Đăng Quang đă vắng mặt, một sự đau ḷng không xiết tả măi c̣n ghi sâu vào tâm khảm xác hàng đệ tử, nhưng để đền đáp lại sự tôn kính Tổ thầy, chư Tăng xuất gia cũng như cư sĩ tại gia quyết tâm tu học theo giới luật mà thầy tổ đă ban truyền mà nhờ với lẻ thật tu chơn, mà mối đạo ngày nay lan rộng ăn sâu vào ḷng người, hầu hết tất cả trong xứ đều nhận thấy cái giá trị cái y bát Khất sĩ Việt Nam, hành đúng theo Phật Tăng ngày xưa.

    Lễ tự tứ năm 1960 ta thấy từ phương trời xa cách 800-1000 cây số, suốt dăi đất trung phần, và Nam-Việt đệu qui tụ về, ta c̣n thấy hành bóng nhiều vị Trưởng Lăo, Thượng Tọa, Đại Đức cao tuổi đạo, bên chư Tăng cũng như chư Ni, đă nhập đạo từ trước, từng hầu kề bên vị Tổ Sư Minh Đăng Quang được sự chứng minh thọ kư, khai giáo dạy dỗ, ta nh́n kỷ các vị ấy như có những nét thần dệu khôn lường, các vị đă dày công khổ hạnh thay thầy truyền đạo dẫn lối cho chúng sinh, chính đó là những tấm gương đáng kể.

    Về sau này Tăng chúng ngày càng đông, chúng ta thấy tuy không biết được Tổ sư nhưng trên mặt kinh luật, giáo lư, chơn lư những người về sau t́m gặp được xuất gia tu học Khất sĩ cũng là hữu duyên hữu phước, đại căn đại đức...

    Đến đây tôi c̣n nhớ một vài đệ tử tại gia mà tôi không sao quên được. Bà Tư Hộ Pháp, người ta biết bà có mặt theo hầu Sư Tổ M-Đ-Q từ năm 1948 lúc Ngài vừa đến Vĩnh Long, chẳng biết bà có hiểu đạo không, hoặc hiểu đạo bằng cách nào, chớ sự trung thành, kiên chí, phụng sự cho giáo pháp Khất sĩ người ta không quên được những bước đầu tiên, những người có mặt, chung lưng đâu cật xây đắp nền móng, mới có đường lối về sau này. Bà đă hầu Tổ từ xưa, Tổ vắng mặt bà hàu Tầy (các sư) lo bề hộ pháp mấy lượt Giáo Hội. Tăng hành đạo đi từ Nam đến Huế, khắp Trung Việt, từ Vĩnh Long đến Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, khắp Nam Việt, bà măi theo lo cho sư trên bước đường hành đạo vất vả khổ sở đói no lạnh nóng, mà chính bà không sung sướng ǵ hơn. Đến đổi nay 1960 đă ngoài bảy mươi bà vẫn quên tuổi già sức yếu, đây một mẫu gương Hộ Pháp của bà Ngọc Thủy.

    Gương hạnh Hộ Pháp trợ đạo rất có nhiều phương diện do sự phát tâm và nhơn duyên mỗi lúc, việc đáng kể là sự truyền bá đạo lư, máy in Pháp Ấn từ trước đức M.Đ.Q, đă phó thác cho những nhà đạo tâm trí thức, do đạo hữu trí minh (thầy kư chiếu ở Long Xuyên) quán xuyến và ấn hành. Ấn công toàn những bàn tay làm công quả trường trai bất sát. Về mặt tài chánh th́ thập phương thiện tín góp tiền chung đậu mua giấy mực để in kinh pháp thí.

    Từ năm 1953 máy in bắt đầu làm việc đến nay, xuất bản và tái bản 69 quyển ch[n lư đă có tới 500.000 quyển. Chính là 69 bài pháp do đức M.Đ.Q diễn giải để truyền bá đạo lư; có đủ triết lư, chơn lư, quyền pháp, đốn pháp, tiệm pháp gồm cả Kinh, Luật, Luận, dạy cả đạo lẫn đời để dấu về sau này vậy.

Thực hiện: TN.Chung Liên

 

 

  M.Đ.Q. Pháp Giáo