Luật Nghi Khất Sĩ

CƠI NIẾT-BÀN

Giới-bổn Luật-Nghi ( Tỳ-Kheo 250 giới )

a)     BẢY LỚP LAN-CAN-BÁU  ( thất tụ giới ).

1)     Bốn đại giới ( trục xuất )                                                            4

2)     Mười ba giới tổn-hại tăng tàn ( giáp cấp )                                   13

3)     Hai giới không định.                                                                   2

4)     Ba chục giới phá sự thanh-bần ( cấm pḥng sáu bữa )                 30

5)     Chín chục giới hành phạt ( qú hương )                                      90

6)     Bốn giới đặc biệt ( xưng tội xă đọa )                                            4

7)     Một trăm giới nhỏ phải học ( sám hối )                                     100

Cộng 250 giới

b)    BẢY LỚP LƯỚI BÁU: ( Thất định pháp )

8) Bảy pháp diệt tránh ( giới giải ḥa )                                                 7

Cộng 250 giới

c)     BẢY HÀNG CÂY BÁU: Thất giác ư ( thất Bồ-đề )

1)     Phân biệt sự lành với sự dữ.

2)     Tinh tấn mà lướt lên.

3)     An lạc trong ṿng đạo đức.

4)     Thắng phục tâm ư ḿnh đặng làm lành.

5)     Nhớ tưởng đạo lư.

6)     Nhứt tâm đại định

7)     Vui chịu với mọi cảnh ngộ.

( Muốn rơ biết hơn hăy xem Giới bổn )

NIẾT BÀN THỜI KHẮC BIỂU

TRÚ DẠ LỤC THỜI 

1)     5 giờ tới 6 giờ sáng: thiền định.

2)     8 giờ tới 9 giờ sáng: khất - thực.

3)     11 giờ tới 12 giờ trưa: thực thời.

4)     3 giờ tới 4 giờ chiều: thuyết pháp.

5)     6 giờ tới 7 giờ chiều: thiền định.

6)     12 giờ tới 1 giờ khuya: thiền định.

GIÁO-HỘI TĂNG-GIÀ KHẤT-SĨ

a)     Một Tăng hay một chúng là 4 vị Sư.

b)    Một Tiểu Giáo hội Tăng-già là 20 vị Sư.

c)     Một Trung Giáo hội Tăng-già là 100 vị Sư.

d)    Một Đại Giáo hội Tăng-già là 500 vị Sư.

Trong đó chỉ có một chức Khấtsĩ mà thôi, chứ không có phân chia giai cấp chi cả. Những ai đắc quả A-La-Hán, hay Bồ-Tát, có trí huệ, đạt quả linh, đức hạnh lớn, th́ được người ta tôn trọng. Trong đạo không có tính tuổi lớn, nhỏ, nhiều, ít, theo đời: tùy theo kẻ xuất gia sau trước, kể từ ngày qui-y thọ giới, th́ giáp năm tính là một tuổi. Bởi kẻ đời chết sanh qua bên đạo, chết bỏ cơi ác, cơi thiện mà sanh vào trong đạo giải thoát, nên tính theo tuổi giải thoát thôi.

Người mới xuất gia nhập đạo, phải theo thầy, ở chung trong Giáo hội 2 năm, kế đi tách riêng một ḿnh 2 năm nữa. Trên bốn năm được thâu 1 người Tập-sự. Trên sáu năm mới được thâu nhận một đệ tử và một người Tập-sự. Được trên 12 năm tách ra đi lập đạo riêng, dạy số đông.

Trên 6 năm gọi là Đại Đức, trên 12 năm gọi là Trưởng Lăo.Hai bậc nầy phải có đủ đức hạnh do Giáo hội chứng minh cho phép. Trong Giáo hội, ai lớn tuổi đạo được đứng, đi, ngồi trước, ai nhỏ tuổi đạo phải theo sau. Từ khi Giáo hội đă được đủ 20 vị rồi th́ những ai xuất gia sau nầy phải tập sự với một vị Sư trong 2 năm. Ở trong giữa Giáo hội, kêu gọi là nhập thai trong bông sen. ( Chính hoa sen là Giáo hội Tăng-già, là ngôi vị của Đức Bồ-Tát hay Phật, là Giáo chủ. Giáo hội Tăng-già lớn gọi là ṭa sen lớn ). Sau 2 năm tập sự đủ nết, hạnh thanh tịnh và thiện căn phước đức nhơn duyên mới cho thọ qui giới, nhập chúng sau hàng Khất-sĩ, bấy giờ mới được gọi là b́nh đẳng.

Trọng đạo: Các Sư chỉ làm thầy đỡ đầu, tiếp dẫn, truyền giới chứng minh tạm cho mỗi vị mới xuất gia, chớ chúng sanh là b́nh đẳng, không có danh quyền ch cả.

Người tập sự phải từ 18 tuổi sắp lên, và từ 20 tuổi mới được thọ giới Khất-sĩ 250 giới. Chứng minh cho một người tập sự, phải có đủ 4 vị Sư trên 2 năm. Và khi cho thọ giới Khất-sĩ phải có đủ một Tiểu Giáo hội 20 vị sắp lên, chứng nhận minh bạch, thiếu một vị cũng không được. Khi đó phải có một vị Sư đứng ra giới thiệu xin giùm với Giáo hội, một vị Sư truyền thọ qui giới cho, và phải có một vị Đại Đức hay Trưởng Lăo, Thượng tọa đứng ra bảo đảm dăy dỗ. Lúc ấy tất cả Giáo hội đều phải ưng thuận hết; nếu có một vị Sư bất b́nh th́ sẽ không được thâu nhận.

(Ni-lưu cách thâu nhập đạo cũng y như Tăng, mà mỗi khi nhận một người Tập-sự, phải tŕnh diện với một Tăng (bốn vị) liền trong lúc ấy. Cho thọ giới một nữ Khật-sĩ phải do Giáo hội Tăng xem xét mới được).

Trẻ nhỏ dưới 18 tuổi không được thâu nhận cho tập sự v́ đạo Phật là đạo Giác ngộ của bậc già đủ trí. Đúng phép của sắc thân, th́ người 18 tuổi là tuổi tập sự, năm 20 tuổi là tuổi xuất gia, Thinh-văn. Năm mươi bốn tuổi là tuổi du hành. Duyên-giác, 60 tuổi là tuổi làm Bồ Tát, 66 tuổi là tuổi đi giáo hóa cả chúng sanh, 72 tuổi là tuổi Như Lai Niết Bàn nín nghỉ.

Người xuất gia nhập đạo cũng giống như gia đ́nh xă hội cơi thế. Chính Giáo hội Tăng già mới là một Đại gia đ́nh hạnh phúc, một Đại xă hội hiền lương. Chính Giáo hội Tăng-già là giáo lư muôn năm.

Cơi sống của những ông già kinh nghiệm không c̣n tư riêng nhỏ hẹp, sống với cả chúng sanh chung, từ bi trí huệ, thanh tịnh trang nghiêm, trí huệ đầy đủ. Giới luật Tăng-già là miếng đất Tịnh-độ, xứ an lạc của mỗi vị Phật, nơi có thâu, chứa, rước, độ chúng sanh, dạy tu cho mau đắc quả ! Cơi ấy dầu bao nhiêu, nhiều ít, ai ai, cũng không có sự tranh căi rầy rà, ai nấy tự do tu học lấy ḿnh, không hay ḍm ngó, không có danh lợi chen đua. Khi đă thấu lư đạo rồi th́ lại xót thương muôn loại, mà chẳng c̣n sở chấp riêng ḿnh. Ngựi người đều biết hạ ḿnh tôn trọng lẫn nhau trong tâm b́nh đẳng hẳn thật yên vui.

Từ khi mới theo tập sự với một vị Sư, dưới sự đùm bọc che chở của vị sư đỡ đầu, cũng như nhập thai tronghoa sen có được pháp danh thọ kư. Đến khi được xuất gia thọ giới là mới sanh ra trong giữa ṭa sen. Thầy đỡ đầu như mẹ, thầy tiếp dẫn là cha, kế đó Tăng chúng như quyến thuộc chủng loại. Nhờ đó được lớn lên Đại Đức, có đệ tử con, thành Trưởng Lăo là già, lập đạo giáo riêng là gia đ́nh xă hội khác để dẫn dắt cả chúng sanh chung. Ấy mới là gia đ́nh xă hội, thế giới chơn thật vĩnh viễn tốt đẹp, riêng toàn là của những bậc Đại hiền kia vậy.

Những ai vào trong giới luật của Giáo hội Tăng-già rồi, th́ chẳng bao lâu sẽ bổ xứ đi làm Phật, giáo hóa chúng sanh ở những nơi khác nữa. Vào đó không ai c̣n muốn thối chuyển trở ra để làm chúng sanh. Chính giới luật là xứ Phật, gương sen ! Những ai đă được ở vào trong ấy, không c̣n lo sợ sự dính dơ bùn bụi trong giữa cơi trần.

Giáo hội Tăng-già: luôn luôn đi du hành, chớ không ở một chỗ quá 3 tháng. Khi đi, đi bộ cả tăng đoàn, để cho được sự học hành khắp xứ, đủ hạng người và quí nhứt là sự giải thoát chổơ một nơi để dứt bỏ tham sân, si, ái dục dễ dàng. V́ chính nguyên nhân của sự giăi đăi, mất đức và phạm giới là bởi ở một chỗ vậy. Trừ ra những kẻ già bịnh mới ở lại nghỉ dưỡng nơi Tịnh xá và giữ chừng cho Giáo hội sau này có chỗ ở lại. Vị sư ở một chỗ có bổn phận phải dạy dỗ cư gia, kêu là Bồ Tát trụ xứ.

Tại chỗ trụ: Trong đó có nhà Tịnh xá, xây tháp nhà thờ Pháp của chư Phật quá khứ. Tháp phải 13 từng (v́ Đức Như Lai là ngôi vị thứ 13 của chúng sanh tiến lên từ nấc), tháp phải mở trống bốn cửa. Nơi đó chỉ để kinh sách hoặc cốt tượng Phật. Tháp bề cao ba thước, chưng rộng vuông 1m80. Tịnh xá phải 8 thước, vuông bốn phía, h́nh bát giác. Có nhà giảng thuyết pháp, góc vuông 16 thước. Có nhà độ cơm nghỉ mát, bề ngang 8 thước, bề dài 16 thước (ba cái này gọi là nhà Tam bảo), và có nhà thờ riêng cho cư gia, bề dài 8 thước, bề ngang 4 thước.

Phía trước, bên trái có nhà Thiện nam, bên mặt có nhà Tín nữ. Phía sau, bên mặt có cốc nghỉ chơn cho Ni-lưu, bên trái có cốc của Tăng, có hồ sen, núi đất, có ao rạch hoặc suối, có cây cao bóng mát gió thanh, xa nhà bá tánh trăm thước, trống trải giữa trời, không trồng bông trái. Xa núi, xa chợ, cảnh giữa vườn rừng, đó mới là nơi thiền định đáng làm chỗ trụ. Đất rộng trăm thước, không thú dữ, xa tôn giáo, tránh binh gia, gần xóm người hiền, tránhxa trộm cướp, chẳng cận đường đi, không xây tường gạch, nóc ngói, chỉ cất dùng cây,ván, lá. Cốc phải lót sàng, xa mồ mă trăm thước. Nhà tiêu hướng Đông Nam, nhà tắm phía Tây Bắc, nhà bếp để hờ nấu nước, thuốc, phương Đông Bắc. Chỗ để đồ vật Giáo hội tại Tây Nam. Mặt tiền Tam bảo ngay phía Tây, lưng trở lại Đông; Thiện nam phương Nam, Tín nữ phương Bắc, có cốc Tăng ở. Chung quanh có hàng rào cao 2 thước làm ranh. Thiện nam, Tín nữ, Ni-lưu chẳng được nghỉ đêm trong vuông chùa cổng rào sáng 7 giờ mở ra, chiều 5 giờ đóng lại, để yên cho các Sư tu tịnh.

Tại chùa: Những ngày: 30, rằm, mùng 8, 23, các Sư có nói pháp cho cư gia, mỗi ngày phải học luật, sám hối, làm công, học Pháp từ 3 giờ tỡi giờ chiều. Mỗi buổi sáng phải đi khất thực từ 8 giờ đến 9 giờ. Trưa 11 giờ độ cơm và đọc kinh tới 1 giờ, khuya, chiều, sáng, lo tu tịnh.

Tại chùa: Các Sư c̣n có phận sự phải dạy học chữ quốc ngữ, (Hán việt, và Nôm Việt cho Tập-sự kém chữ). Hoặc dịch sách in kinh cho Giáo hội Tăng-già đi du hành, và dạy cho bá tánh sự tu tập.

Tăng chúng phải giữ thứ lớp trật tự màu sắc y bát đồ vật cho giống nhau. Nhữn ai muốn đi tách riêng t́m chỗ vắng tu tịnh, phải có lịnh Giáo hội cho phép và xét xem kỹ lưỡng, phải cho được trên 2 năm thọ đại giới, phải có đủ đức hạnh, phải chịu khổ cực mới được.

Kẻ ở trong Giáo hội Thinh-văn, gọi là hữu-dư Niết-Bàn.

Kẻ độc thân Duyên-Giác, gọi là Vô-dư Niết-Bàn.

Kẻ bổ xứ giáo hóa lập đạo riêng, gọi là Đại Niết-Bàn.

Người tập sự phải hầu thầy và làm công cho Giáo hội, thờ kính các Sư để trau dồi thiện căn phước đức nhơn duyên, vừa để cho các Sư xem xét tánh hạnh lâu ngày.

Tại chùa các Sư không đi đám tụng kinh; thỉnh thoảng v́ t́nh cận sự của cư gia, các Sư đến thăm bịnh, để nói Pháp an ủi mà thôi. Khi có trai Tăng,cầu siêu các Sư mới đọckinh chú nguyện ! Thường ngày th́ các Sư đọc kinh cầu nguyện chung cho cả chúng sanh sau buổicơm ngọ, khi rảnh các Sư đọc kinh để mở trí tham thiền. Và luôn luôn chú nguyện cho chúng sanh trong mỗi lúc, để mở mang trí huệ và tập tâm từ bi tinh tấn.

Sư trị sự ở tại chùa: Có phận sự phải thâu cất giữ y bát, đồ vật dụng cho Giáo hội, lo sắp đặt chỗ nơi có các Sư xa mới tới, và chỉ bảo cách cúng kiến cho Cư-gia, sắp đặt trật tự cho Giáo hội. Ở tại chùa khi nào có công việc làm nhiều, nên chi ai đem đến dâng đồ điểm tâm sáng th́ các Sư được dùng, bằng không có là thôi, chớ không tự nấu luộc, không được hỏi xin.

Các Sư lữ hành đi đường xa khi bịnh yếu cũng được như vậy. Bởi ăn đồ chay thiếu chất bổ, nên chi buổi ăn sáng, nếu có Cư-gia đem đến hộ, th́ các Sư cũng được dùng, v́ sự ăn chay đi bát ít ai cúng được thức ăn tử tế. Ấy bởi sự bất cập của bá tánh mà phần nhiều các Sư chỉ nhận được trái bánh đơn sơ, không đủ sức khỏe cho lâu ngày. Vậy nên buổi sáng không cấm hẳn nhưng vị Sư nào nhịn không độ sáng th́ càng tốt hơn, v́ để rảng trí tham thiền. C̣n những ai làm công việc nhiều dùng thêm buổi sángth́ khi nào có mới độ không th́ thôi; Chớ chẳng đặng để dành đồ ăn cách đêm.

Trong Giáo hội Tăng-già: Ở tại chùa phân chia theo ngăn ranh thứ tự:

Tập-sự ở theo phía Tập-sự.

Khất-sĩ ở chung theo phía Khất-sĩ.

Chỗ học hành, ngơi nghỉ, tiêu, tắm, khác nhau. Ban ngày th́ tṛ nào theo thầy nấy, mỗi tṛ nhỏ phải có theo một vị Sư.

Chính giới luật của Giáo hội Tăng-già là xứ Tây phương Tịnh độ, Cực lạc an dưỡng của chúng sanh. Là thế giới tinh thần hay viên ngọc quí trong giữa cơi trần. Cũng là trường học Ta bà của Vơ trụ. Chiếc thuyền bè giữa biển, hay nhà an lạc nơi giữa chợ… Trong đó có lan can, lưới, cây quí báu, đạo tràng như ao, pháp bát chánh như nước, giáo lư như cát vàng, lẽ chánh-đẳng chánh-giác như mặt đất lưu ly, tứ chúng như mé ao, các bậc trí huệ như hoa sen, chơn lư sáng như hào quang, sự giảng giải nói ra như muôn hoa luôn rưới, cơi sáng rỡ quang minh chánh thiện, không chút đen tối ác tà, tiếng dữ lời thô không c̣n có. Tăng chúng thanh nhă, áo vàng phất phơ bay lượn; Cơi êm ái lặng trang, không chó sủa, không mèo kêu, không gà gáy, trên chim hót, dưới cá lội. Nhà không có cửa, ngoài đường chẳng lượm của rơi, không tiền, không gạo; Kỳ hoa, dị thảo, bửu quả trổ sanh, cơi bất thối vô sanh, Tăng chúng số trội không lường đếm.

Mỗi ngày có gió rung khuya là nhơn duyên giảng luận đạo lư, tiếng Pháp nhiệm mầu, thanh tao hay diệu, hơn cả nhạc trời. Bảy bậc giác ngộ như chim nói pháp. Nơi cơi ấy chỉ biết có Phật-Pháp-Tăng, dân chúng niệm măi không nhàm, vào đó chỉ lo ăn học, cơi thế sự xa mất biệt h́nh. Tưởng ăn có ăn, là đúng giờ đến buổi, vừa nhớ ra là đă có kẻ hộ bát cúng dâng. Tưởng mặc có mặc là măn năm áo rách, vừa nhớ ra là đă đến kỳ đổi y thay áo. Muốn tắm tới đâu có nước dâng lên tới đó, là muốn thắm nhuần đạo lư, tắm nước Pháp tới đâu, có người xối dạy, dâng cho tới đó. Người hiểu đặng Chơn lư, nhập định hoặc một ngày, hoặc đến bảy ngày, sẽ có thần thông. Vào địa vị Phật Thánh khác nào nhờ bậc ấy rước đưa. Thế ch nên, kẻ đă hiểu ra mau liền giải thoát, chết bỏ cơi đời, sanh qua nhà Phật. Kẻ đă sanh, kẻ đang sanh, kẻ chưa sanh. Đạo mà có trong đời th́ ai ai rồi cũng giác ngộ văng sanh lần, để xa lánh cơi đời ác trược. C̣n ai mà chẳng muốn được văng sanh đến cơi giải thoát trói trăn phiền năo của điều thiện ác, là xứ của những bực trong sạch ông già.

Những ai muốn xuất gia, trước phải hiểu thông luật đạo, học thuộc ḷng Tứ-y-Pháp, mười giới và những bài kinh cúng nguyện, mới được cho vào Tập-sự, giữ hạnh và tham thiền, sau 2 năm được thuộc Giới-bổn, tinh tấn không phạm giới, tham thiền được ấn chứng và trọn lễ hầu thầy, mới được cho xuất gia nhập đạo.

Khi c̣n Tập-sự phải học hỏi cho biết tên tuổi lịch sử của Thầy, của vị Giáo chủ, của các bậc Trưởng Lăo, Đại Đức; Phải biết mục đích của ḿnh, tôn chỉ của đạo và phải nhớ ngày ḿnh vào đạo. Nhứt là cần hiểu giáo lư của y bát, sự đi xin và ăn chay. Và tại sao ḿnh ĺa bỏ cảnh thế ?

Khi thọ giới th́ phải một lần một người, mau lắm cũng bảy ngày mới cho vào Tập-sự. Ai muốn xin xả giới về thế cũng phải xả lần từ mười giới, tám giới, năm giới, đủ bảy ngày mới sẽ trở ra luôn, và khi trở vào cũng phảithọ giới lần từng bực.

VỀ SỰ DI KHẤT-THỰC "

a)   Phép đi khất thực chỉ từ một đến hai người mà thôi, trừ khi nào đến xứ lạ, một hai ngày đầu đi chung cho biết đường sá, đi từ người cách khoản 2 bước.

b)  Khi đi lấy cơm, hoặc đi trai tăng tại nhà cư sĩ th́ được đi chung, đi một hàng một, cách nhau hai bước tây, ai lớn tuổi đi trước, Tập-sư đi sau.

c)   Tại Tịnh-xá có ban cư sĩ hộ pháp, hoặc có nhiều người xin cúng dường luân phiên, giáp 30 ngày trong mỗi tháng th́ Giáo hội nếu đông chia ra: Phân nửa Tăng đi Khất thực, phân nửa Tăng nhận cúng dường trọn bữa ăn.

d)  Tốt hơn là mỗi người hằng ngày đều phải đi bát, ban Hộ pháp chỉ hộ thêm sau khi đi về.

e)  Khi đi khất thực nếu ai về không kịp ngọ, lỡ quá trưa th́ phải độ nơi chỗ vắng, gốc cây xa đường lộ, phố sá, chợ đông. Phải tránh những chỗ dơ dáy bụi bặm, cấu trược ồn ào, v́ thế sẽ làm nhẹ thể Pháp Phật.

f)   Mỗi đường có thể đi ba ngày, đi xa không quá 3000 thước.

g)  Bận đi phải đi luôn, bận về nếu thiếu th́ đứng trước cửa từ nhà (ngoài đường chớ không được vào thềm), mỗi nhà đứng năm ba phút theo thứ tự.

h)  Khi bát c̣n lưng, th́ ôm qua tay trái gần trước bụng, lúc đầy rồi phải để vào túi, phủ nắp lại, quảy phía tay mặt không nhận nữa.

i)   Không nhận lănh đồ vật để trong túi, ngoài bát, hoặc trên nắp bát.

j)  Không được nhận tiền, gạo, không được nhận đồ ăn mặn, khi người đem đến cúng, ḿnh có thể hỏi xem chay hay mặn, đó là gương dạy thiện cho người.

k)  Không được đi vào nhà ai, khi đi khất thực. Nếu phải đi viếng ai hoặc có việc của Giáo hội sai, th́ đi lại ngay nhà người ta trước, bát mang chớ không ôm, bận về mới ôm ra đi xin mà trở về.

l)    Không được đứng lại uống nước, hay đại tiểu khi đi khất thực.

m)  Bát nếu ôm trần th́ được nhận, bát mang trong túi cấm thâu nhận.

n)   Không được ngó mặt thí chủ, hoặc nói chuện quá năm sáu câu.

o)  Ai có hỏi đạo giữa đường, th́ kiếm gốc câ ngồi nói, hoặc hẹn nhau khi độ cơm rồi sẽ nói, hoặc mời người đến ngay chỗ trụ, hoặc để ngày khác người thỉnh cúng dường tại nhà có Tăng đông, có cư sĩ nhiều sẽ nói.

p)  Khi đi khất thực, ai muốn cúng hoặc thí ǵ tự ư, bao giờ người hỏi sẽ chỉ dạy, bằng không th́ thôi, chớ chê khen bắt lỗi ép buộc người ta.

q)  Nếu biết cơm có dính lỡ đồ ăn mặn, th́ khi về phải cho người khác, chớ không được dùng, bằng khi túng ngặt phải rụt rửa sạch mới được dùng.

r)  Khi đi khất thực pgải trang nghiêm ḥa hưỡn, ngó nga xuống, ngó xa hai bước, chớ ngó liếc hai bên, chớ t́m lóng nghe chuyện người nói, tâm phải niệm Phật.

s)  Đừng vừa đi vừa nói chuyện chỉ chỏ, muốn qua đường quẹo phải đứng lại xoay ḿnh, chớ đừng đi tắt xéo.

t)   Mỗi khi có chuyện ǵ th́ phải đứng lại, có ai cúng th́ chỉ lại người sau,cho để bát trước.

u)   Ngày nào ai đi bát đường nào, phải sắp đặt trước tại chùa, chớ đừng ra đường lộn xộn.

v)  Khi đi khất thực, ngoài món ăn ra, không nhận món chi ai gởi hết. Hăy bảo người ta đem lại các chùa kia.

Ai nói gởi cúng Phật th́ không được nhận, hăy nói “ Tăng chỉ là người tu đi xin ăn mà thôi”.

     W) Ăn rồi đồ nếu c̣n dư phải cho hết, không được để dành.

     W1) Đồ khất thực trước phải độ trước. Đồ cúng dường sau phải độ sau.

     W2) Khi đi khất thực không được chống gậy, mang giầy, che dù… Phải mặc áo chừa cánh tay mặt, đầu trần, chân không, phải mặc vấn thượng y trùm kín.

PHÉP ĐI ĐẾN NHÀ CƯ SĨ :

Tăng đi phải hai người sắp lên (Ni đi phải bốn người sắp lên).

Không được ở đêm nơi nhà cư sĩ, trừ kh có tai nạn cần kíp, được ở một đêm thôi ( Người xuất gia rồi chẳng đặng trở về nhà, chẳng đặng biết quyến thuộc riêng, chủng tộc riêng, mà xem tất cả là chúng sanh chung. Người Tập-sự có thể 3 tháng về một lần, giáp năm về một lần, hai năm về một lần. Về ban ngày, mỗi lần chừng hai giờ đồng hồ, đi với bốn vị Sư ). Chớ ḍm ngó đồ vật hai bên, chớ ngó ra phía sau, phải ngồi ngay giữa, day mặt ngó ra. Khi vào phải có người thỉnh 3 lần: một lần ngoài đường, một lần trong sân, một lần trước cửa.

Không có ghế riêng thấp th́ chẳng đặng ngồi. Nếu thấy chủ nhà ngồi ván ghế cao, ăn thịt, uống rượu, đi guốc giày, để đồ dằn mạnh th́ phải kiếu ra về.

Không được hỏi thăm tuổi tác, tên họ mạnh giỏi, làm ăn dua bợ theo kẻ thế. Nhà nào không có đàn ông rước th́ chẳng đặng vào (Ni-cô th́ không có đàn bà rước th́ chẳng đặng vào). Biết nhà không ưa chớ nên vào.Vào nhà cư gia không quá hai giờ đồng hồ. Nhà không có ghế riêng cho nhà Sư, th́ ngồi trên đất hết thảy, hoặc đứng. C̣n giường ván của cư gia chẳng phép ngồi.

Phải tránh thị phi tai tiếng. Chớ nói cười cao giọng, chớ ngó mặt ai. Chớ tôn trọng sắc thân vật chất của người.

Phải có mặt vần y thượng kín đáo, đoan trang, cử chỉ thanh cao, nói năng chậm răi mắt ngó ngay xuống, chớ ở lâu, hăy sớm liệu ra về.

    Trong khi ăn: Ngồi bán già, bát để trước mặt, sát chân; canh, bánh, trái để ăn sau, cơm đồ ăn phải trộn lại cho đều, khi bịnh mới để riêng từng món. Tay trái ôm bát, tay mặt cầm muỗng không rời. Muỗng múc tém gọn, miệng không hả lớn. Đừng hả miệng trước, chớ cho rớt cơm hoặc lào thào. Nhai chớ hở môi, nhai cho thật nhuyễn và chậm răi. Đang khi nhai chớ múc muỗng khác, chớ làm xao động. Cơm, đồ ăn rớt phải lượm bỏ vào bát (nếu lấm dơ phải lượm để riêng). Đang khi ăn chớ nói chuyện, chớ ngó liếc, ăn chung Giáo hội phải một lượt ḥa chúng. Ngồi phải ngay lưng, đầu hơi khom cúi. Mắt ngó xuống tách nước ngay trước mặt cách năm tấc. Muỗng cơm đưa lên tới miệng, chớ khom đầu. Khi ăn múc chi độ nấy, chớ lựa chọn món ăn.

  Ăn rồi phải rửa tay miệng, ba lần mới uống nước. Bát ai nấy rửa. Trước khi ăn, cúng dường chú nguyện. Cách ngồi ăn phải phân minh thứ lớp: Tập-sự theo Tập-sự, Khất-sĩ theo Khất-sĩ. Ngồi cách một chỗ ngồi, ăn chớ để dư thừa, phải nhắm chừng sớt ra cho ai trước khi ăn, chớ ngồi ăn chung với cư sĩ, chớ ăn tại chỗ thờ Phật, chớ ăn chung với Ni-lưu.

   Trai Tăng phải từ bốn vị Sư. Ăn chớ chấp mùi vị, chớ quá no. Bịnh phải tự cử ăn.

MẶC

Áo chăn có thứ lớp, chớ lộn xộn. Tăng mặc nửa ống chân ( Ni mặc ngang mắt cá ) mặc xếp phía trước. Nếu có rách vừa bằng ngón tay là phải vá lần đừng để rách lớn. Màu lợt phải nhuộm sậm lại. Chăn áo ba ngàyphải giặt. Thượng y nửa tháng phải giặt chớ để mùi hôi. Dính dơ phải cắt bỏ vá lại.

NÓI

Nói rất ít, ngậm miệng cắn răng, t́m cách tránh nói, cực chẳng đă nói với ai năm sáu câu trở lại thôi. Nên tập nói pháp, chớ nói thế sự, chiến tranh, tôn giáo, chê bai, bói khoa, khoe khoang, nói dối, đâm thọc, rủa sả, nói giễu cợt lời vô ích… Nên khen người mà chớ dua bợ, nên luận đạo mà chớ tranh căi, chớ nói việc ai ai.

   Nói pháp không quá một giờ đồng hồ, đọc kinh thầm nho nhỏ mỗi lần nửa giờ thôi.

LÀM

  Chớ làm việc sát sah, trộm cắp tổn hại ai. Chỉ làm việc đạo lư: Viết sách, dịch kinh, tham thiền, nhập định, thuyết pháp, luận đạo, dạy học, khất thực làm gương lành. Giúp việc công cho Giáo hội. Quét dọn chùa, tháp, cốc, lượm rác, giữ vệ sinh cho Giáo hội, đóng cửa chùa. May áo và y cho Giáo hội, sắc thuốc, nấu cháo nuôi người bịnh.

 Chớ ra tay làm việc cho cư gia, chớ làm việc chung với kẻ chưa thọ giới. Áo ai nấ giặt, Bát ai nấy rửa. Việc riêng ai nấy làm, rảnh việc ḿnh nên giúp kẻ khác.

ĐI

    Đi ngang hàng, đi hai gót khít, bước cách một bàn chơn, đầu cúi, lưng hơi khom, không nh́n liếc, ngó ngay tới trước mặt bề xa hai thước. Đi chmẫ răi khoan thai. Tại chùa hay ra đường cũng vậy, đi phải ngay ḿnh, chớ lắc nghiêng qua lại, chớ đi mau, chớ đánh ṿng xa, chớ chạy nhảy leo trèo. Quá ngọ tới chiều, không được đi vào xóm. Có đi đâu phải từ hai người sắp lên (Ni phải bốn). Cấm đi chung và một lượt với Ni-lưu, Tín-nữ, kẻ gian nhơn, người hung ác.

ĐỨNG

   Đứng hai gót phải khít, hai dau062 gối phải nga, hai tay phải nắm lại, phải biết chỗ đứng theo thứ tự. Chớ đứng gần cư gia, Tín-nữ, Ni-lưu. Chớ đứng tréo chơn, chống nạnh, chớ đứng hở gót (bẹt hai chơn), chớ đứng chơn thẳng chơn dùn. Chớ đứng một chơn dưới đất, trên một chơn ván ghế, chớ đứng ẹo lưng, nghẻo đầu, dựa vách ngả ngớn.

NGỒI

   Ngồi hầu Pháp, hầu thầy, xếp chơn; ngồi thiền phải ngồi kiết già: ngồi thường chỉ ngồi bán già. Chớ ngồi tréo ngoảy, chớ ngồi chồm hổm. Khi làm việc ngồi chồm hổm giây lát th́ hai đầu gối phải cho khít. Mỗi khi ngồi phải tém chăn cho gọn, lấy mí thượng u che phía trước. Chớ ngồi xếp bằng lót hai chơn phía dưới. Chớ ngồi sái phép. Tỳ Kheo ngồi cách xa Sa-di hai thước, với cư-sĩ, Ni-lưu cũng vậy.

NẰM

     Phải nằm nghiêng co đầu gối, hai tay không đưa lên, không để gần chỗ trược. Chớ nằm ngửa, nằm sấp. Chớ nằm chỗ cư gia, Tín-nữ, Ni-lưu. Chớ nằm chung hai người, trừ kh bịnh, chớ nằm chỗ đông đảo ( Nằm 4, ngồi 3, đứng 2, đi 1 ).

THỨC

    Thức nhiều ngủ ít. Ngày đêm ngủ sáu giờ đồng hồ. Sống chết sao cũng được. Sống bởi chúng sanh, chết bởi ḿnh. Tâhn phải tŕ giới. Tâm phải nhập định. Trí phải huệ sáng. Tánh phải chơn như. Phải chết nơi núi, rừng, vườn, chớ chết trong chợ xóm. Chết nằm nghiêng hoặc ngồi kiết già, nên thiêu đốt lấy tro, hoặc cất xương trong hang núi.

MẮT

      Mắt phải đừng nhá liếc, nếu ngó ngang phải xoay trọn cái đầu. Ngó phụ nữ cách xa năm thước. Ngó ngay sóng mũi, ngó thoáng qua, không được chăm chú. Xuất gia rồi, nam không ngó mặt mẹ, nữ không ngó mặt cha.

Mắt là thần, chủ của tâm nên phải ngó xuống va tập cho cứng. Thường phải ngó xa chân Trời hướng Tây để quán tưởng. Chớ ngó sắc trần đồ vật tươi tốt khéo hay, thân người chưn dọn. Mà phải thấy chư Phật Pháp Tăng, thấy sự khổ của chúng sanh. Thấy xa thăm thẳm tận hư vô. thấy trong chơn tánh. Thấy ba đời.

TAI

   Tai không nghe thế sự, tiếng ác nhơ, êm dịu, lời kèn huyễn. Phải nghe gió, nghe hư không, nghe tiếng pháp, nghe tận nơi xa, nghe trong trí năo.

MŨI

   Mũi chớ hửi mùi, thơm thúi, mà nên hửi tâm người, hửi mùi pháp, hửi tận hư không, hửi mùi của các hạng chúng sanh, hửi cùng tam thế.

LƯỠI

   Lưỡi chớ nếm vị ngon, chớ phân biệt thức ăn, nên phải nếm pháp vị, nếm đạo lư, quả Niết bàn an lạc.

THÂN

   Thân chớ trau dồi tốt đẹp, mà cũng đừng quá ư trệ xấu xí, chớ ư mềm mại,chớ ham tươi tốt áo quần. Phải tŕ giới phạm hạnh thanh tịnh, chớ đụng cọ với ai ai. Đừng dung dưỡng, đừng khổ hạnh. Chớ ham mập, chớ ưa ốm. Đừng sạch quá, chớ ở dơ,ba ngày tắm, một lần, đừng thoa dồi, xức, ướp. Đừng uống thuốc nếu chẳng đau, đừng liều mạng khi có bịnh.

Ư

  Ư không mong cầu, đừng ha cố chấp, sao cũng được, sao cũng xong. Sao là sao, cái ǵ cũng vậy, như nhiên, như thường như như. Đừng trái ư ai, đừng tự ư ḿnh. Đừng nhớ tưởng, đừng rối loạn chớ tự cao. Thân, khẩu, ư phải trong sạch lục trần. tham, sân, si phải đoạn diệt; sát, đạo, dâm phải dứt chừa. Bốn miệng chớ hơn thua. Phải thường ở nơi thanh tịnh, lánh chỗ lợi danh mới phải là người Khất-sĩ giác ngộ.

TÓM LẠI:

Có giới mới có định. Không giới định th́ không phải là nười tu hành; Chẳng bao giờ phát huệ sanh chơn. Chắc ai cũng chưa thành Phật, th́ đừng khinh giới lậut. Ví giới là Phật thân, hay là chưn gốc của chúng sanh, không có nó muôn loài khó sống. Giới là trung đạo không thái quá và bất cập. Ai muốn đắc quả A-La-Hán nay kiếp này khá mau tŕ giới giữ hạnh, giải thoát ly gia.

Ta nên nhớ rằng: muốn làm bậc ǵ trong xă hội thế gian mà không có giới th́ sẽ thất bại, tự chiêu kỳ họa. V́ không có giới th́tham, sân, si không dứt, mà tham sân si là độc khí sẵn trong ḿnh, nó ssẽ giết ḿnh chết, trước khi hy vọng thành công.

Phạm giới, sái với kỷ luật, phân sự vai tuồng của ḿnh là có ội, lỗi quấy. Người giữ đúng giới luật theo tŕnh độ của ́nh là phước, trúng, phải. Ấy thế phước hay tội của nỗi bực là do giới luật, vậy ai ai cũng phải có giới luật.

V́ sự thiện, ác, khổ, vui nhiều ít là do giới luật. Giới luật là nền tảng của mọi việc hay khác. Kẻ nào không giới như không có chỗ đứng, nấc thang, ssẽ sa ngă té xuống hố sâu, lọt vào địa ngục, th́ biết chi là đầu trên chưn dưới, ta và người… Kẻ ấy sẽ không có chi hết.

 

Luật Nghi Khất Sĩ