CON ĐƯỜNG XUẤT GIA, SỰ THỬ THÁCH VÀ ĐẠO QUẢ.


Với tinh thần hướng thượng sẳn có, nhiều lần Ngài xin phép với thân phụ được xuất gia tầm chân lư. Thân phụ v́ quá thương con nên không đành để Ngài ra đi một ḿnh một bóng đến xứ lạ quê người hoặc nơi núi rừng cô tịch, hang động hiểm nguy khi tuổi đời c̣n niên thiếu, nên ông cụ nhất định cản ngăn. Thấy việc tŕnh xin không có kết quả v́ t́nh phụ tử quá thiêng liêng, nhưng cũng không v́ sự luyến ái đó mà Ngài bỏ dở chí đăng sơn.Qua nhiều đêm suy nghĩ Ngài tự nhủ không thể tầm thường như bao người trong trần tục để kiếp phù sinh cứ măi lăn xoay trong ṿng sinh già bệnh chết...Cuối cùng Ngài quyết tâm dơng mănh cất bước ra đi, cắt đứt t́nh thân.
Thôi th́ thôi, thế thôi th́,
Vẹn nguyền, xin chịu lỗi ngh́ với cha.
Thiếu niên ngày nọ ĺa nhà,
Vượt biên giới Việt- Miên xa dặm ngàn.
Lên non t́m động hoa vàng,
Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành
Ngài rời Việt Nam đến Campuchia năm đó được 15 tuổi. Ngay từ buổi đầu gặp được một vị Thầy Việt lai Miên nổi tiếng đạo pháp cao siêu, Ngài liền cầu xin thọ giáo. Trải qua những cuộc trắc nghiệm cam go, rốt cuộc vị Thầy hoan hỉ tỏ lời khen ngợi và giao hết gia sản đạo nghiệp cho người đệ tử trông nom. Được bốn năm, ở Campuchia, Ngài vừa làm xong bổn phận, vừa nghiên cứu Kinh tạng và đường lối Y- Bát chơn truyền của Phật Tăng xưa. Sau đó, Ngài xin phép với Thầy được trở về Việt Nam để truyền bá giáo lư.
Trên đường về lại quê hương, Ngài gặp phải một thử thách lớn trong đời. Một thử thách mà khắp thế nhân người người đều mang nặng - Đó là hiếu nghĩa song đường và nghiệp duyên trần thế:
Cha già mái tóc điểm sương,
Mẹ xưa dưới mộ chút hương linh này.
Thôi th́ theo cái xưa nay,
Lập gia thất để yên mây chín từng.
Nghĩa ân vành vạnh một vừng,
Có nàng thục nữ khuê trung dịu dàng.
Cảm ơn cứu tử ngàn vàng,
Nguyện cùng xướng họa cung đàn phu thê.
Phương danh nàng là Kim Huê,
Quê vùng Chợ Lớn vẹn bề công dung.
Và rồi duyên định cũng an bài. Hơn một năm sau Kim Huê giă từ trần mộng. Điều này quả thật đúng với ư nghĩa bi mầu trong cơi hạ vô biên:
Gẫm trong trời đất vô cùng,
Nợ duyên âu cũng nghiệp chung muôn loài.
Hay là thánh ư Như Lai,
Muốn cho ôn lại trọn bài đau thương?
Đau thương là tính vô thường!
Vô thường là tính đoạn trường xưa nay.
Bài học đau thương, bài học vô thường, bài học đoạn trường... quả là những bài học vi diệu đă kiến tạo cho cơi phiền năo thành cảnh giới an vui, đă giúp duyên cho ḷng người Bồ Tát tṛn xong hạnh nguyện hôm nào c̣n dang dở.
Lần này Ngài dốc chí
ôm bổn nguyện ra đi, đi một phương trời vô định, đi không bao giờ trở lại.
Nhiều
lần Ngài vào hang núi ẩn tu, đồng thời nghiên cứu về đường lối Nam Bắc Tông Phật
Giáo. Ngài dấn thân vào vùng Thất Sơn, nơi có nhiều núi non huyền bí, hang động
sâu thẳm, có những bậc ẩn tu ít người thấy gặp. Ngài đến đây với tất cả ḷng
thành, với quyết chí tu hành giải thoát, t́m ra chánh pháp của Như Lai, hiến
dâng cuộc đời cho Phật pháp. Giữa chốn núi cao chớn chở, cây lá phủ giăng bốn bề
tịch lặng, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hú, làm bạn với cỏ cây. Đêm th́ tham
thiền tịnh tọa, buổi sáng th́ mang b́nh bát đi khất thực hóa duyên trong thôn
xóm theo hạnh Phật tăng xưa. Giờ ngọ thọ trai xong, Ngài trở về t́m chổ tịch
lặng để đi kinh hành và giữ ḿnh thanh tịnh, trau dồi đạo quả.
Ngài ở vùng Thất Sơn ít lâu th́ xuống núi qua đất Hà Tiên định lần ra Phú Quốc, rồi sau đó sẽ t́m sang các nước học đạo truyền giáo. Nhưng khi vừa đến nơi th́ đă trễ tàu. Ngài ở lại ra đầu gành băi biển Mũi Nai ngồi tham thiền bảy ngày bảy đêm quán xét nhơn duyên. Trước cảnh thiên nhiên trời nước bao la, những chiếc thuyền nhấp nhô, bọt nước tụ tán.... Vào một buổi chiều Ngài ngộ nhập Phật Pháp, chứng đạt lư vô thường, vô ngă, cảnh khổ trầm luân, đầy vơi, có không, c̣n mất, sống chết, khổ vui của cuộc đời. Chính nơi đây Ngài tỏ sáng lư pháp " Thuyền Bát nhă" ngược ḍng đời cứu độ chúng sanh. Năm đó Đức Ngài tṛn 22 tuổi:
Măn khai vô thượng liên đài,
Trang nghiêm thị hiện Như Lai tọa thiền.
Thuyết
Pháp và Truyền Đạo
Để đánh dấu bước đường hoằng dương Phật pháp, thời pháp đầu tiên được phóng từ kim khẩu của Ngài là " Thuyền Bát Nhă" vào ngày Rằm tháng tư tại Linh Bửu Tự, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Từ đó, gót chân hành đạo của Đức Tôn Sư MINH ĐĂNG QUANG, vị sư trưởng của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam bước rộng lần ra từ phạm vi làng này sang làng khác, từ tỉnh này sang tỉnh khác. H́nh ảnh một thầy tu, một nhà sư thân đắp mảnh y vàng, tay ôm b́nh bát đất, đi khất thực vào mỗi buổi sáng, không nhà cửa, không gia đ́nh quyến thuộc, không cất trữ chứa chấp món chi, không ở một nơi nào nhất định, không tiền bạc.v.v.. Ngài phát nguyện " Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp", noi gương Phật tăng xưa sống đời phạm hạnh giải thoát:
" Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lư du
Dục cùng sanh tử lộ
Khất hóa độ xuân thu"
Trong những buổi thuyết pháp. Ngài luôn luôn kêu gọi tăng đồ trở về với giới luật " NÊN TẬP SỐNG CHUNGTU HỌC".Ngài kêu gọi nhân loại hăy thương yêu nhau " không tự lấy để trừ tham, không tự làm để tránh ác". Và Ngài cũng khuyến khích mọi người hăy cùng chung xây dựng một cơi đời đạo đức, một xứ thiên đường, một cuộc sống an vui hạnh phúc cho nhân loại ngay tại trần gian nầy bằng cách:
Mỗi người phải biết chữ
Mỗi người phải thuộc giới
Mỗi người phải tránh ác
Mỗi người phải ( học đạo) làm thiện.
Những thời pháp của Ngài thuyết c̣n ghi lại trong bộ Chơn Lư ( gồm sáu mươi chín tiểu luận). Ngài đă khéo léo dung hợp tư tưởng giáo lư của hai tông phái Phật giáo đưa ra con đường trung đạo, chánh đẳng chánh giác... giúp cho mọi tầng lớp trong xă hội nhận được chân giá trị của Đạo Phật.
Ngài chủ trương và thường khuyến hóa chư đệ tử với quan niệm: " Ta là tất cả, tất cả là ta, ta sống cho tất cả th́ tất cả sống cho ta, tiếng ta đây là tất cả, đó tức là chơn lư vũ trụ. Người thực hành đúng chơn lư gọi là khất sĩ. Khất ấy là xin, Sĩ đây là học. Xin ấy rồi lại cho, Học đây rồi lại dạy. Xin phẩm thực để nuôi thân giả tạm. Cho sự thiện lành phước đức để bảo giữ sự sống dài lâu. Học bằng cách lượm lặt phương pháp khắp nơi, rút nhiều kinh nghiệm. Dạy là đem kết quả thật hành đặc điểm chỉ lại cho người. Cái xin, cái học, cái dạy, cái cho, các pháp nương sanh, mở ra con đường sáng lạn cho tất cả kẻ về sau tiến bước. Con đường ấy kêu là Đạo. Đạo của Sống là xin nhau sống chung, Đạo của Biết là học chung, Đạo của Linh là tu chung.
Chư Tăng, Ni xuất
gia theo Ngài học đạo thời bấy giờ có trên trăm vị, c̣n Phật tử theo quy y thọ
giới tại gia cũng hơn cả vạn người. Tịnh xá được thành lập hơn 20 ngôi tại các
tỉnh miền đông và đồng bằng sông Cửu Long. Ngài hành đạo thuyết pháp độ sanh
được khoảng mười năm th́ thọ nạn và vắng bóng.
Trong hàng đại đệ tử của Đức Tôn Sư có các vị Trưởng Lăo, Thượng Tọa kế tục đạo nghiệp, lập các giáo đoàn du tăng di hành đạo khắp hai miền Nam- Trung ( 1955-1975) như quư Ngài: Giác Tánh, Giác Chánh, Giác Như, Giác Tịnh, Giác An, Giác Nhiên, Giác Lư, Giác Đức v.v....
Bên Ni giới khất sĩ th́ có quư Ni Trưởng, Ni Sư như: Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Liên, Ngân Liên, Chơn Liên,Quang Liên, Tạng Liên, Trí Liên v.v....
( Hiện nay ( 1981- 1992...) đại diện hàng giáo phẩm hệ phái được đề cử trực tiếp tham gia thành viên trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam có Ḥa Thượng Nhu, Ḥa Thượng Từ Huệ ( Hội Đồng Chứng Minh) và Thượng Tọa Giác Toàn, Ni Sư Ngoạt Liên ( Hội Đồng Trị Sự).
Thực Hiện: TN. Diệu Thiện
![]()