|
 



Giới thiệu: Đại đức Brahmavamso là vị lănh đạo tinh thần của hội
Phật Giáo Tây Úc, và là viện chủ thiền viện Bodhinyana, huyện
Serpentine, tiểu bang Tây Úc, Úc châu.
Các
vị thiền sư Phật Giáo đă nói rất nhiều về cách hành tŕ Pháp Tứ Niệm Xứ
(Satipattana, ngoại trừ người tu sĩ nầy. Cho nên, trong bài pháp ngắn
hôm nay, tôi cũng xin theo xu hướng nầy để tŕnh bày một vài điều quan sát
thực tế về pháp hành thiền đó, vốn là một pháp giảng của Đức Phật mà có lẽ
đă có nhiều ngộ nhận trong hàng thiền sinh Phật Tử.
Các bạn nào đă từng tham gia vào các trung tâm Phật Giáo th́ chắc đă nghe
nhiều vị thầy tuyên bố rằng Pháp Tứ Niệm Xứ là "một con đường duy
nhất" để tiến đến Giác Ngộ. Mặc dù lời tuyên bố nầy có vẻ khẳng định
và hấp dẫn, nhưng thật ra, đó không phải là lời phiên dịch chính xác của
kinh điển nguyên thủy và cũng không nhất quán với những lời Phật dạy trong
các bài kinh khác. Cụm từ Pali "Ekayana Magga" trong bài kinh
số 10 (Kinh Tứ Niệm Xứ) trong Trung Bộ Kinh thường được dịch là "con đường
duy nhất" cũng được dùng trong bài kinh số 12 (Đại Kinh Sư Tử Hống) và có ư
nghĩa rơ ràng là "một con đường với một mục đích duy nhất". Có
nhiều con đường khác nhau nhưng cùng chung một mục đích. Thật ra, "con đường
duy nhất" đă được Đức Thế Tôn đề cập đến, không phải là Tứ Niệm Xứ, mà là
Con Đường Tám Chánh (Bát Chánh Đạo), như trong Kinh Pháp Cú:
"Trong tất cả các con đường, Con Đường Tám Chánh là thù thắng nhất
(...)
Đây là con đường duy nhất, không có con đường nào khác, để đi đến
tri kiến thanh tịnh"(...)
(Pháp Cú, 273-274, giản lược)
Như thế, "con đường duy nhất" đến Giác Ngộ, như mọi Phật Tử
đều đă biết rơ, là Bát Chánh Đạo. Bốn nền tảng của Chánh Niệm
(Tứ Niệm Xứ) chỉ là một phần của con đường đó. Đó là chi phần thứ 7 (Chánh
Niệm). Ngoài ra, c̣n có Chánh Định là chi thứ 8, và cũng c̣n có Chánh Kiến,
Chánh Tư Duy, Chánh Tinh Tấn, và 3 chi của Chánh Giới (Chánh Ngữ, Chánh
Nghiệp, và Chánh Mạng). Mỗi chi phần nầy đều cần thiết như nhau, để đạt Giác
Ngộ. Nếu có chi phần nào mà không cần thiết th́ ắt hẳn Đức Phật đă dạy về
Đạo Bảy Chánh, Đạo Sáu Chánh, v.v. Thế nhưng, trong kinh điển, lúc nào Ngài
cũng luôn luôn đề cập đến Đạo Tám Chánh. Cho nên, trong công tác tu học và
hành tŕ của các bạn, các bạn cần phải luôn luôn ghi nhớ rằng tất cả tám chi
phần của Bát Chánh Đạo cần phải được tu dưỡng đồng đều và trọn vẹn, như là
"một con đường duy nhất" .
Hành
tŕ pháp Tứ Niệm Xứ như lời Phật dạy là một công phu rất cao cấp. Cao cấp
đến nỗi mà Đức Thế Tôn dạy rằng nếu người nào có thể hành tŕ nghiêm túc bốn
niệm xứ đó theo phương cách mà Ngài đă đưa ra th́ chỉ trong bảy ngày, người
đó có thể đạt Giác Ngộ hay đắc quả Bất Lai (Kinh Tứ Niệm Xứ). Nhiều thiền
sinh đă từng tham dự các khóa thiền 7 ngày, 10 ngày, hay nhiều hơn mà vẫn
chưa đạt được một kết quả cao quư nào như Đức Phật đă hứa hẹn. Tại sao thế ?
Tôi nghĩ rằng đó là v́ họ đă không thực hành nghiêm túc đúng theo những lời
Phật dạy.
Nếu bạn muốn thực hành pháp Tứ Niệm Xứ theo phương cách mà Đức Phật nói
có kết quả nhanh chóng tiến đến Giác Ngộ, th́ có nhiều việc mà bạn cần phải
hoàn tất trước khi bạn bắt đầu quán niệm. Các công việc sửa soạn nầy có thể
tóm tắt như sau: Bạn cần phải hành tŕ trọn vẹn bảy chi phần kia của
Bát Chánh Đạo. Hay nói một cách khác, như Đức Phật đă giảng trong
Tăng Chi Bộ ("Chín Pháp - Phẩm Niệm Xứ", Kinh số 63 và 64), bạn phải tuân
giữ chặt chẻ 5 Giới luật, đoạn tận 5 Triền cái (tham lam, hận sầu, hôn trầm,
trạo hối, nghi ngờ), rồi mới hành thiền Quán Niệm.
Các điều kiện tiên quyết tối quan trọng nầy thật ra đă được Đức Phật
giảng trong hai bài kinh về Tứ Niệm Xứ (trong Trung Bộ và Trường Bộ) trong
câu Pali: "Loke Abhijjha-Domanassam". Câu nầy
thường được dịch là: "sau khi nhiếp phục tham lam và ưu sầu trên đời" hay
tương tự như thế. Lời dịch như vậy thường không được các thiền sinh hiểu rơ
và họ xem thường lời dạy đó của Đức Phật, và v́ thế, họ đă không đạt được
kết quả nào cả ! Vào thời Đức Phật c̣n tại thế, các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni,
và cư sĩ ắt hẳn đă hiểu ngay câu nói đó có nghĩa là "sau khi đă đoạn
tận năm Triền cái"! Các bản chú giải chính thống về hai bài kinh Tứ
Niệm Xứ đều giải thích rơ ràng rằng cụm từ Abhijjha-Domanassam
là dùng để chỉ năm Triền cái. Trong các bài kinh giảng khác của Đức Phật,
Abhijjha là đồng nghĩa với Triền cái thứ nhất,
là đồng nghĩa với Triền cái thứ nh́, và nếu dùng chung lại với nhau -- trong
thành ngữ Pali -- đó là cách viết tắt cho nhóm năm Triền cái. Điều nầy có
nghĩa là cả năm Triền cái phải được đoạn tận trước khi bắt đầu hành tŕ pháp
Quán Niệm. Cho nên, theo ư kiến của tôi, chính v́ các thiền sinh cố hành
thiền Quán Niệm trong khi vẫn c̣n vướng mắc vào các Triền cái mà họ đă không
đạt được kết quả tốt hay lâu dài.
Chức năng của việc thấu đạt các tầng thiền (Jhana) -- chi phần Chánh Định
của Bát Chánh Đạo -- là để đoạn tận tất cả năm Triền cái để giúp triển khai
tuệ Minh sát. Trong bài kinh số 68 của Trung Bộ (Kinh Nalakapana), Đức Phật
dạy rằng khi hành giả chưa đạt các tầng thiền Jhana, năm Triền cái cùng với
bất lạc và giải đăi sẽ xâm chiếm tâm và trú tại đó. Chỉ khi nào hành giả đạt
vào các tầng thiền th́ năm Triền cái cùng với bất lạc và giải đăi mới không
xâm chiếm tâm và không trú tại đó. Đức Phật đă dạy rơ ràng như thế.
Thiền sinh nào đă trực nghiệm được các tầng thiền mạnh mẽ nầy th́ ắt đă
biết được, qua kinh nghiệm bản thân, bản chất thật sự của tâm sau khi các
Triền cái đă đoạn tận. Thiền sinh nào chưa biết các tầng thiền th́ chưa hiểu
rơ các dạng vi tế của các Triền cái. Họ tưởng rằng các Triền cái đă đoạn
tận, nhưng thật ra, họ đă không nhận thức được chúng, và v́ thế, đă không
đạt kết quả tốt trong khi hành thiền. Do đó mà pháp hành Thiền Vắng Lặng
(Samatha) để nuôi dưỡng các tầng thiền Jhana là một phần của pháp Quán Niệm,
và v́ thế nếu cho rằng pháp Quán Niệm (Satipattana) là một pháp "Thiền Minh
Sát thuần túy" (Vipassana) th́ điều nầy không được chính xác cho lắm. Vị
thầy của tôi, ngài Ajahn Chah, đă nói đi nói lại nhiều lần rằng Samatha và
Vipassana -- Vắng Lặng và Minh Sát; Chỉ và Quán -- phải đi đôi với nhau,
không thể tách rời được, như thể hai mặt của một đồng tiền.
Sau
khi đă kiên tŕ hoàn tất các công tác sửa soạn cần thiết, thiền sinh giờ đây
có thể an trú chánh niệm vào một trong bốn đề mục: thân thể của ḿnh, các
cảm thọ đau đớn hay hỷ lạc, tâm thức, và đối tượng của tâm. Khi các Triền
cái đă tàn lụi và thiền sinh có thể duy tŕ định lực vững mạnh để chú niệm
vào các đề mục nầy, th́ lúc đó thiền sinh mới có thể quán chiếu được phần
sâu thẳm trong tâm thức, sâu hơn cả các nhận thức thông thường, về tính chất
vô thường của cái gọi là Tự Ngă mà chúng ta thường bám víu vào đó. Chúng ta
thường cho rằng thân thể nầy là tôi, là của tôi, rằng các cảm thọ sướng hay
khổ là có liên quan với cái tôi, rằng cái tâm đang quán sát chính là linh
hồn của tôi, rằng các đối tượng của tâm như là ư nghĩ và hành thức (cái
"chọn lựa") là Tự Ngă, là tôi, là của tôi. Mục đích của Tứ Niệm Xứ là để
hướng dẫn thiền sinh phải làm ǵ sau khi đă thoát ra các tầng thiền, để khám
phá ra cái ảo tưởng đă được ngụy trang khéo léo của cái gọi là Tự Ngă, và từ
đó thấy được điều mà Đức
Phật đă khám phá, đó là Chân Lư của Vô Ngă.
Đây không phải là điều dễ làm, không phải bất cứ người nào cũng làm được
trong thời gian ngắn, nhưng đó là điều khả thi, có thể hoàn tất được trong
bảy ngày. Nhưng với điều kiện là thiền sinh phải hành tŕ trọn vẹn và
nghiêm chỉnh theo các lời Phật dạy mà không chạy theo một ngơ tắt
nào khác.
B́nh
Anson lược dịch
tháng 8-1997
Thực hiện: SC Ánh Liên
|