Giáo Lý Phật Giáo

Niết-Bàn:
Bản Chất và Mục Tiêu Giác Ngộ

 

                             

 

    Thích Nhật Từ

 

Chú Thích

[1] Thỉnh thoảng từ này cũng được sử dụng đồng nghĩa với pari-nibbaana và pari-nibbuta có nghĩa là trạng thái Niết-bàn trong hiện đời, mặc dù trong vài ngữ cảnh thuật ngữ "pari-nibbaana và pari-nibbuta" chỉ được sử dụng để chỉ cho trạng thái Niết-bàn sau khi chết. Xem giải thích chi tiết ở tác phẩm: S. Collins (1998): 147-51, 193-8.

[2] Dhp. 203.

[3] S. II. 278.

[4] Ud. p. 80.

[5] D. I. 156, 167; S. II. 18, 34, 115; III. 163; IV. 141; M. III. 286.

[6] So sánh A. I. 8: bhikkhu paniihitena cittena avijja'm bhecchati vijja'm uppaadessati nibbaana'm sacchikarissati.

[7] Ud. 80.

[8] S. IV. 368-73 liệt kê hơn 30 đồng nghĩa của Niết-bàn. Các từ này là: cứu cánh, trạng thái vắng mặt các phiền não, chân lý, bờ bên kia, sâu diệu vi tế, cái khó nhận ra, cái không bị biến hoại, vững chắc, không còn bị phân huỷ, vượt khỏi tỷ giảo, không có sự khác biệt, thật an lạc, bất tử, tuyệt vời, kiết tường, an nghỉ, diệt tận tham dục sân hận và vô minh, không còn ái trước, không còn phiền muộn, ly tham ái, thanh tịnh, giải thoát, không chấp trước, hòn đảo, hang động, sự bảo vệ, nơi nương tựa và mục đích sau cùng." Các đồng nghĩa của Niết-bàn cũng còn xuất hiện rãi rác ở các kinh D. I. 36; M. I. 163, 173; A. II. 247; It. 38-9; Sn. 1149; Ud. 80. Các mô tả về Niết-bàn bằng các thuật từ khẳng định vả phủ định nhấn mạnh đến các phương diện tâm lý, chuyển hoá và ẩn dụ. Trong bài viết này, tác giả không trình bày riêng biệt phần các thuật từ khẳng định về Niết-bàn, trong khi các thuật từ phủ định về Niết-bàn được trình bày một phần độc lập, do vì tính quan trọng của nó trong việc mô tả Niết-bàn.

[9] Tác giả chân thành cảm ơn học giả R. E. A. Johansson, nhờ vào sự nghiên cứu nghiên thủy của ông (1969: 106) về Niết-bàn mà bài viết này được ra đời.

[10] S. I. 125, S. IV. 371-2; M. I. 508-9; Dhp. 202-4, Ud. 10; Thag. 35.

[11] S. IV. 371-2.

[12] S. I. 48; S. IV. 174; It. 57.

[13] M I. 167; MLS I. 211.

[14] It. 122; S. IV. 369-70.

[15] Sn. 1086.

[16] S. IV. 370.

[17] S. I. 192; A. II. 24; It. 122; Thag. 289, 510, 831, 912; Thiig. 135, 333.

[18] It. 122.

[19] S. IV. 370.

[20] Thag. 264.

[21] Sn. 1149; M. I. 167.

[22] S. IV. 369.

[23] S. IV. 372.

[24] M. I. 511; S. III. 32; Sn. 749, 788.

[25] It. 38.

[26] S. IV. 370.

[27] Dhp. 203-4.

[28] S. IV. 372.

[29] S. III. 189.

[30] S. I. 210.

[31] M. I. 511.

[32] S. IV. 368.

[33] S. IV. 372.

[34] It. 38.

[35] It. 38-9.

[36] S. IV. 359.

[37] S. II. 117.

[38] Sn. 467.

[39] M. I. 173.

[40] S. IV. 372.

[41] Xem bốn mô tả về Niết-bàn trong Cảm Hứng Ngữ được trình bày trong bài viết này.

[42] Ud. 80.

[43] S. IV. 368.

[44] M. III. 245.

[45] S. I. 62.

[46] Xem thêm Walpola Rahula. (1978): 36f.

[47] M. I. 167, 173.

[48] M I. 167; MLS I. 211.

[49] S. II. 42-3, 57; M. II. 265.

[50] S. I. 174.

[51] Ud. 80-1.

[52] Ud. 33.

[53] Sn. 707.

[54] A. II. 24; It. 122.

[55] Trích theo R. E. A. Johansson. (1969): 45-6.

[56] S. II. 117.

[57] Sn. 467.

[58] M. I. 173.

[59] S. IV. 372.

[60] S. IV. 251: "yo raagakkhayo dosakkhayo mohakkhayo ida'm vuccati nibbaana'm." So sánh S. I. 359; S. V. 9; A. V. 9.

[61] Vin. I. 8; Vin. II. 156. So sánh S. I. 141.

[62] S. III. 190: Ta.nhakkhayo hi Raadha nibbaana'm. So sánh S. IV. 368-72.

[63] G.R. Welbon (1968).

[64] L. V. Poussin (1982): "Thật là an toàn khi chủ trương rằng Niết-bàn là sự đoạn diệt" (It may therefore be safely maintained that Niravaa.na is annihilation) (p. 117); "Rằng Niết-bàn là đoạn diệt bắt nguồn - ít nhất cho chúng ta - nhưng từ các nguyên lý tổng quát của triết học Phật giáo và từ các tuyên bố rõ ràng" (That Nirvaa.na is annihilation results-at least for us-but from the general principles of Buddhist philosophy and from clear statements" (p. 116).

[65] Trích trong H. S. Sobti (1985): 133.

[66] S. III. 109-115.

[67] S. III. 110-1.

[68] M. I. 484-8.

[69] W. Rahula (1978): 35: The only reasonable reply to give to the question [what is nibbaana?] is that it can never be answered completely and satisfactorily in words, because human language is too poor to express the real nature of the Absolute Truth or Ultimate Reality which is Nirvaa.na.

[70] N. Dutt (1980): 279; R. E. A. Johansson (1969): 44f.

[71] K. N. Jayatilleke (1980): 476: not that there was something that the Buddha did not know, but that what he 'knew' in the transcendental sense could not be conveyed in words because of the limitations of language and of empiricism.

[72] S. Radhakrishnan (1977): 676ff.

[73] R. E. A. Johansson (1969): 42-50.

[74] D. J. Kalupahana (1976): 75.

[75] D. J. Kalupahana (1976): 82.

[76] D. J. Kalupahana (1976): 82; E. Conze (1962): 76f

[77] A. Tilakaratne (1993): 81. The experience of nirvana does not come out as a result of transcendending the ordinary reality of the world. Neither does it derive from a transcendent God, nor does it lead one to the Transcendent. The exclusion of these possibilities indicate that nirvana does not involve, in principle, the kind of non-verbalizable knowledge usually associated with the other forms of religious experience. This shows that the Buddhist religious experience can not be taken to subscribe to the ineffability thesis.

[78] Y. Karunadasa (1994): 7.

[79] Y. Karunadasa giải thích rất thuyết phục rằng khái niệm thế giới (loka) vốn có nghĩa là 6 quan năm cảm giác (the six-fold sphere of sense activity) (S. IV. 39). Ðiều này kéo theo rằng danh hiệu "thế gian giải" (loka-viduu) (D. III. 76; S. I. 62; A. II. 48) sẽ có nghĩa là "bậc tuệ tri được thế giới của kinh nghiệm giác quan." Tương tự các thuật ngữ "lokanirodha," and "lokanta" (A. II. 49) sẽ có nghĩa là "sự chấm dứt thế giới và sự tận cùng của thế giới" cũng nên được hiểu dưới ý nghĩa của tâm lý học. (1994: 4).

[80] Y. Karunadasa (1994): 11.

[81] M. I. 486.

[82] At S. III. 111-2, Saariputta thường dùng phán đoán này để phủ bác việc Yamaka diễn đạt đức Phật bằng bốn khả thể chỉ định (tứ cú).

[83] Bản kinh đọc là "dhaatu" có nghĩa đen là "yếu tố." F. L. Woodward đã dịch ra tiếng Anh "conditions, các điều kiện" (MNPC, II. 143) trong khi đó S. Collins lại thích dịch nghĩa đen là "yếu tố" (elements), (1998: 149).

[84] Có nghĩa đen là sự chấm dứt toàn bộ các lậu hoặc.

[85] Có nghĩa đen là Niết-bàn với năm nhóm nhân tính còn tồn tại.

[86] Có nghĩa đen là sự tan rã hoàn toàn nhóm nhân tính.

[87] Có nghĩa đen là Niết-bàn không còn nhóm nhân tính tồn tại.

[88] It. 38.

[89] M. I. 140; S. III. 109-115; S. IV. 383ff.

[90] Kết luận này có thể được minh chứng bằng một câu ở cuối đoạn trích đầu là cuối: đây thật sự là sự chấm dứt của đau khổ" có nghĩa là Niết-bàn trong đời sống hiện tại chứ không phải sau khi chết.

[91] Ud. 80: Atthi bhikkhave tad aayatana'm, yattha neva paỉhavii na aapo na tejo na vaayo na aakaasaana~ncaayatana'm na vi~n~naa.naana~ncaayatana'm na aaki~nca~n~naayatana'm na nevasa~n~naanaasa~n~naayatana'm naaya'm loko na paraloka ubho candimasuuriyaa, tad aha'm bhikkhave neva aagati'm vadaami na gati'm na ỉhiti'm na cuti'm na upapatti'm appatiỉỉha'm appavatta'm anaaramma.nam eva ta'm, esevanto dukkhassaati. Tham khảo bản dịch tiếng Anh của R. E. A. Johansson (1969): 51 với vài thay đổi nhỏ.

[92] S. I. 192; A. II. 24; It. 122; Thag. 289, 510, 831, 912; Thiig. 135, 333.

[93] W. Rahula (1978): 40. It is incorrect to think that Nirvaa.na is the natural result of the extinction of craving. Nirvaa.na is not the result of anything. If it would be a result, then it would be an effect produced by a cause. It would be samkhata 'produced' and 'conditioned.' Nirvaa.na is neither cause nor effect. It is beyond cause and effect . . . The only thing you can do is to see it, to realize it. There is a path leading to the realization of Nirvaa.na. But Nirvaa.na is not the result of that path. You may get to the mountain along a path, but the mountain is not the result, not an effect of the path. You may see a light, but the light is not the result of your eyesight.

[94] Tác giả đọc là anatta'm, thay vì ananta'm như đề nghị trong bản dịch tiếng Anh về kinh Tăng Chi của Woodward. Sự rắc rối văn bản ở đây đã làm bối rối các học giả. Xem R. E. A. Johansson (1969): 53; S. Collins (1998): 166-7.

[95] Ud. 8: Duddasa'm anatta'm naama, na hi sacca'm sudassana'm; paỉividdhaa ta.nhaa, passato natthi ki~ncananti.

[96] Ud. 80: Atthi bhikkhave ajaata'm abhuuta'm akata'm asaơkhata'm, no ce ta'm bhikkhave abhavissa ajaata'm abhuuta'm akata'm asankhata'm, na yidha jaatassa bhuutassa katassa sankhatassa nissara.na'm pa~n~naayetha. Yasmaa ca kho bhikkhave atthi ajaata'm abhuuta'm akata'm asankhata'm, tasmaa jaatassa bhuutassa katassa sankhatassa nissara.na'm pa~n~naayati. Ðoạn này cũng tái xuất hiện ở It. 37.

[97] Dhp. 383.

[98] Ud. 80: Nissitassa ca calita'm anissitassa calita'm natthi, calite asati passaddhi , passadhiyaa sati rati na hoti, ratiyaa asati aagatgati na hoti, aagati-gatiyaa asati cutuupapaato na hoti, cutuupapaate asati nevidha na hura'm na ubhayamantare, esevanto dukkhassaati.

[99] It. 38. Phần in nghiêng do tác giả nhấn mạnh.

[100] D. III. 216; S. IV. 259; S. V. 56. So sánh Cf. Vism. 499.

[101] S. II. 274.

[102] It. 38; S. III. 112.

[103] Cf. D. I. 34, 55; M. I. 140.

[104] Cf. S. III. 215-9.

[105] M. I. 484-8. Mười câu hỏi này cũng tái xuất hiện ở các kinh sách sau đây M. I. 426-32; M. II. 228-38; S. III. 213-24; 257ff.; S. IV. 374-403; Milin. 144ff. Riêng 14 câu hỏi cùng nội dung, xem MK. XXVII, XXII and XXV.

[106] M. I. 429-32, 488-9.

[107] M. I. 484-5; Tái xuất hiện ở S. IV. 373-90.

[108] S. IV. 388, 390.

[109] M. I. 487: ghambhiiro hayam . . . dhammo duddaso duranubodho santo pa.niito atakkaavacaro nipu.no pa.n~ntavedaniiyo.

[110] Ibid: so dujjaano a~n~nadiỉỉhikena, a~n~nakhantikena, a~n~narucikena, a~n~natrayogena, a~n~nathaacariyakena.

[111] M. I. 487; M. III. 245; Sn. 232.

[112] M. I. 487-8. Tham khảo bản dịch tiếng Anh của I. B. Horner, MLS. II. 166. Phần phụ chú của chúng tôi. Cũng tái xuất hiện ở S. IV. 376f.

[113] Sn. 1074.

[114] M. I. 139-40.

[115] S. I. 112; Sn. 1119; Dhp. 46.

[116] S. I. 12. Tham khảo bản dịch tiếng Anh của P. Harvey (1995): 230.

[117] Cf. S. III. 35.

[118] Khái niệm này được trình bày rõ ở A. I. 266. Có bốn đặc tính của Niết-bàn có thể so sánh với đại dương (saagara). Bốn đặc tính đó là: (i) giống như đại dương không dung chứa tử thi, Niết-bàn không dung chứa các lậu hoặc, (ii) Cũng như đại dương không bị tràn do tất cả các sông đổ về, Niết-bàn không bao giờ bị đầy do số lượng người tu chứng được, (iii) Cũng như đại dương là nơi cư trú của nhiều loại chúng sanh lớn, Niết-bàn là nơi cư trú của các bậc A-la-hán, và (iv) cũng như đại dương dợn với vô vàn các đợt sóng, Niết-bàn là dòng chảy của trí tuệ và giải thoát.

[119] Sn. 1076.

[120] S. IV. 379-83.

[121] Tham khảo thêm S. III. 111-2.

[122] S. IV. 383.

[123] Ud. p. 80.

[124] D. III. 216; S. IV. 259; S. V. 56. Cf. Vism. 499.

[125] Thag. 707.

[126] It. 38.

[127] Kalupahana (1994: 95-6) cho rằng: "không có sự khác nhau về mặt số lượng giữa cảm giác của người trong luân hồi và người đã giải thoát" (there is no qualitative difference between the feeling of someone who is in bondage and someone who is freed). Nhưng trong quá trình giải thích, ông lại thừa nhận có sự khác nhau về số lượng giữa người chứng và người phàm, khi ông viết: "trong trường hợp của người đã chứng đạt giải thoát, có sự vắng mặt của tham, sân và si, những thứ thường là kết quả trên các kinh nghiệm giác quan" (in the case of a person who has attained freedom, there is an absence of the greed, hatred, and confusion that are generally consequent upon sense experience) p. 96.

[128] M. I. 111-2: cakkhu~ncaavuso paỉicca ruupe ca uppajjati cakkhuvi~n~naa.na'm ti.n.na'm saơgati phasso, phassapaccayaa vedanaa, ya'm, vedeti ta'm sa~njaanaati, ya'm sa~njaanaati ta'm vitakketi, ya'm vitakkheti ta'm papa~nceti, ya'm papa~nceti tatonidaana'm purisa'm papa~ncasa~n~naasaơkhaa samudaacaranti atiitaanaagata-paccupanannesu ruupesu. Xem thêm bản dịch tiếng Anh MLS. I. 145, D. J. Kalupahana (1987): 32, và EB. IV. 236.

[129] Ud. 8: tasmaatiha te Baahiya eva'm sikkhitabba'm: diỉỉhe diỉỉhamatta'm bhavissati, sute sutamatta'm bhavissati, mute mutamatta'm bhavissati, vi~n~naate vi~n~naatamatta'm bhavissati. Phương pháp huấn luyện nhận thức và cảm xúc này cũng còn tái xuất hiện trọn vẹn ở S. IV. 72; KS. IV. 11.

[130] Ud. 80: Nissitassa ca calita'm anissitassa calita'm natthi, calite asati pas?ddhi , passadhiyaa sati rati na hoti, ratiyaa asati aagatgati na hoti, aagati-gatiyaa asati cutuupapaato na hoti, cutuupapaate asati nevidha na hura'm na ubhayamantare, esevanto dukkhassaati.

[131] SnA. p. 30.

[132] S. IV. 231.

[133] D. III. 216, 275; S. IV. 216, 331.

[134] S. IV. 205.

[135] S. IV. 216: ya'm ki~nci vedayita'm ta'm dukkhasminti.

[136] A. II. 6, 36.

[137] S. V. 2-30; A. I. 11-31; It. 9.

[138] S. IV. 233.

[139] S. IV. 233.

[140] M. III. 124; A. IV. 32.

[141] It. 38. So sánh S. IV. 209.

[142] S. IV. 209: So eka'm vedana'm vediyati kaayika'm na cetasika'm.

[143] Sn. 739: vedanaana'm khayaa bhikkhu nicchaato parinibbuto.

[144] S. V. 8: Yo kho . . . raagakkhayo dosakkhayo mohakkhayo ida'm vuccati amata'm (sự diệt trừ tham sân và si được gọi là bất tử, nghĩa là Niết-bàn)

[145] A. IV. 157; D. III. 260.

[146] Vin. II. 193.

[147] D. II. 127.

[148] M. III. 244-5. Cf. D. I. 46; D. II. 128; S. II. 83; A. II. 198.

[149] M. I. 303: Sukhaaya . . . vedanaaya raagaanusayo pahaatabbo, dukkhaaya vedanaaya paỉighaanusayo, adukkhamasukhaaya vedanaaya avijjaanusayo pahaataboo.

[150] A. II. 37.

[151] Ud. 8: tasmaatiha te Baahiya eva'm sikkhitabba'm: diỉỉhe diỉỉhamatta'm bhavissati, sute sutamatta'm bhavissati, mute mutamatta'm bhavissati, vi~n~naate vi~n~naatamatta'm bhavissati. Phương pháp huấn luyện cảm xúc và nhận thức này còn xuất hiện ở S. IV. 72; KS. IV. 11.

[152] Ud. 8; S. IV. 72-3.

[153] Sn. 593: sabbasoka'm atikkanto asoko hoti nibbuto.

[154] It. 122: phu.t.thassa paramaa santi nibbaana'm akutobhaya'm.

[155] Ud. 3: sabbato tanhaana'm khayaa asesaviraaganirodho nibbaana'm.

[156] Vbh. 373; Dhs. 1448.

[157] S. V. 423.

[158] S. V. 422-6.

[159] M. I. 10

[160] D. V. 422.

[161] Xem chẳng hạn M. I. 175: aasavakkhaya~naa.na, lậu tận trí.

[162] Xem chẳng hạn M. I. 10: ~Naayassa adhigamaaya nibbaanassa sacchikiriyaaya.

[163] D. III. 230; M. I. 10; S. III. 26.

[164] S. V. 144.

[165] A. II. 51-2.

[166] Sn. 734: vi~n~naa.nassa nirodhena natthi dukkhassa sambhavo.

[167] Xem c???ng hạn M. III. 223; M. II. 265, về vai trò của ý thức trong chấp thủ.

[168] Sn. 734: vi~n~naa.nuupasamaa bhikkhu nicchaato parinibbutoti.

[169] D. II. 63.

[170] M. III. 223; S. II. 66.

[171] Ud. 93.

[172] S. IV. 20.

[173] M. I. 292.

[174] M. I. 293.

[175] Vism. 369-70.

[176] M. I. 293.

[177] D. I. 83-4; M. I. 175.

[178] S. IV. 231.

[179] M. III. 223-8.

[180] Ud. 8: tasmaatiha te Baahiya eva'm sikkhitabba'm: di.t.the di.t.thamatta'm bhavissati, sute sutamatta'm bhavissati, mute mutamatta'm bhavissati, vi~n~naate vi~n~naatamatta'm bhavissati. Cũng xuất hiện ở S. IV. 72; KS. IV. 11.

[181] D. III. 220, 275; M. II. 105; A. I. 163-5; A. V. 211.

[182] M. IV. 23.

[183] M. IV. 23: Khii.naa jaati vusita'm brahmacariya'm kata'm karaniiya'm naapara'm itthattaayaati.

[184] S. II. 216.

[185] D. III. 281; A. III. 280.

[186] EB. I. mục từ abhi~n~naa: 97a. direct knowledge which has left behind the physical world of space and time, or perception, of ideation, of causality, of logical reasoning, and is, therefore, psychic in the fullest sense.

[187] D. III. 230, 276; M. I. 9; S. IV. 257; S. V. 59; Vbh. 373; Dhs. 1448.

[188] D. III. 281; A. III. 19: aasavaana'm khayaa anaasava'm cetovimutti'm pa~n~naavimutti'm diỉỉhe va dhamme saya'm abhi~n~naa sacchikatvaa upasampajja viharati.

[189] S. III. 190; Vin. I. 9.

[190] Trong mô thức của chuổi duyên khởi, tham ái do cảm giác tạo điều kiện (vedanaa paccayaa ta.nhaa), trong khi trong trật tự ngược chiều, do chấm dứt của cảm giác, sự tham ái cũng chấm dứt (vedanaanirodhaa ta.nhaanirodho).

[191] So sánh S. IV. 209.

[192] D. II. 156.

Thực hiện: Ánh Liên

Giáo Lý Phật Giáo