







Ðầu năm Canh Ngọ
(1990), Hội đồng phiên dịch Ðại Tạng Kinh Việt Nam được thành lập. Cuối năm
Tân Mùi, 1991, hai bộ kinh đầu tiên - Trường A-Hàm dày 1200 trang, Trường bộ
kinh dày 1360 trang - được ấn hành. Qua năm Nhâm Thân, 1992, hai bộ Kinh Trung
A Hàm (3 tập) và Trung Bộ Kinh (3 tập) sẽ được ấn hành để đạt nền móng vững
chắc cho công tác hình thành Ðại Tạng Kinh Việt Nam.
Thật là đúng thời để nói chuyện về phiên dịch
và in ấn Ðại Tạng Kinh vào đầu năm "tâm viên, ý mã" nầy. Câu chuyện về Ðại
Tạng Kinh Phật giáo là một câu chuyện dài, thật dài. Ở đây người viết chỉ điểm
qua vài nét tiêu biểu.
I. Yêu cầu cấp thiết
hình thành Ðại Tạng Kinh Việt Nam:
Ba
tháng sau ngày Ðức Phật nhập diệt, tôn giả Ðại Ca Diếp nhóm Hội nghị tăng già
đầu tiên để kiết lập Kinh tạng và lục tạng bằng khẩu tụng. Một trăm năm sau,
tôn giả Sabbatami chủ tọa kỳ kiết tập thứ hai tại Vaisali (hay Vesàli, Vệ-xá)
ở Ấn, dưới triều vua Kalasoka (cháu của vua Ajatasattu - A-xà-thế). Lần này
Kinh tạng và Luật tạng được đọc lại bằng khẩu tụng, chưa có vấn đề tranh luận,
tranh cãi. Ðến triều đại vua Asoka (A-Dục Vương) lên ngôi năm 273 B.C. và trị
vì 37 năm - tôn giả Moggaliputta Tissa chủ trì lần kiết tập thứ ba bằng chữ
viết, tại Pataliputta, dưới sự bảo trợ của nhà vua. Bấy giờ đã có một số vấn
đề thuộc Kinh tạng và Luật tạng được bàn cãi. Tôn giả Tissa tác bộ luận đầu
tiên trong vòng chín tháng. Tam tạng giáo điển Phật giáo bằng chữ viết được
hình thành từ đây. Thượng tọa Mahinda (con vua Asoka) đem Tam Tạng Kinh cất
giữ ở Tích Lan, và Tam Tạng được giữ nguyên vẹn cho đến bây giờ. Ðây là tạng
Pali.
Một trăm năm sau Tây lịch, lần Kiết tập thứ tư
được tổ chức tại Jalandhara, do vua Kaniska bảo trợ. Bấy giờ tư tưởng Phật học
phát triển rất mạnh mẽ: Thượng tọa bộ, Nhất thiết hữu bộ và Ðại thừa. Do vì có
nhiều sự bất đồng tư tưởng về Kinh và Luật nên nhà vua mới triệu tập hội nghị
này. Theo ý kiến của Pháp sư Huyền Trang, và theo các tài liệu sử đương thời,
thì hầu như Nhất thiết hữu bộ chủ trì Hội nghị này đã tác 10 vạn bài tụng giải
thích Kinh tạng, 10 vạn bài tụng giải thích Luật tạng, và 10 vạn bài tụng giải
thích Luận tạng. Ðây là hình thức mở đầu của Kinh sớ, Luật sớ và Luận sớ, và
là hình thức tân tu Ðại Tạng. Kinh tạng A-hàm bằng chữ viết thuộc vào thời kỳ
kiết tập này.
Qua nhiều chuyển biến tiếp theo của lịch sử,
Phật giáo đã được truyền sang nhiều quốc gia. Tạng Pali có ảnh hưởng ngự trị ở
Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Lào, Camphuchia. Tạng A-hàm và Tạng Ðại thừa có
ảnh hưởng ngự trị ở Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt
Nam. Ngoài Phật giáo Việt Nam, các nước bạn Phật giáo đều có Ðại Tạng bằng
tiếng mẹ đẻ của mình. Do vậy, Trung ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam đã có
quyết định cấp thiết hình thành Ðại Tạng Kinh Việt Nam.
Ðại Tạng Kinh Việt Nam tuy ra đời muộn màng
nhất, nhưng bù đắp lại, khi hình thành sẽ là Ðại Tạng Kinh Phật giáo phong phú
nhất: sẽ bao gồm phần dịch từ Pali tạng, Hán tạng và trong tương lai gần sẽ có
thêm phần dịch từ Sanskrit tạng và Tây Tạng tạng, cộng thêm phần Tục tạng của
Việt Nam khá súc tích nữa.
II. Những khó khăn trong
công tác hình thành Ðại Tạng Kinh Việt Nam:
Lịch
sử kiết tập Ðại Tạng Kinh Phật giáo cho thấy nhân sự trong các lần kiết tập
rất đông, lại được sự bảo trợ tích cực của các triều vua. Công tác hình thành
các Ðại tạng của các nước bạn thì có rất nhiều điểm thuận lợi mà Phật giáo
Việt Nam không có như là:
- Kỹ thuật in ấn cao.
- Tài chánh rất
dồi dào.
- Nhân sự có rất nhiều.
- Ðược các chính phủ trực tiếp bảo
trợ.
- Cơ sở làm việc tiện nghi.
Dù làm việc trong điều kiện rất ít nhân sự và
thiếu thốn đủ mọi mặt, Trung ương giáo hội đã có quyết tâm cao vượt qua các
khó khăn để hình thành các bản kinh đầu tiên, đã thiết lập được cơ sở khá vững
chắc cho việc hình thành Ðại Tạng Kinh Việt Nam. Giáo hội tin tưởng rằng qua
năm Nhâm Thân, 1992, nếu Tứ chúng trong Giáo hội đồng tình hướng mạnh thêm
nguồn nhân lực và tài chánh vào công tác Ðại Tạng, thì nhất định Phật sự Ðại
Tạng sẽ sớm được hoàn thành tốt đẹp như lời nguyện mà Tứ chúng thường đọc
tụng: "...thống lý đại chúng, nhất thế vô ngại".
III. Những chuẩn bị cần
thiết cho tương lai Ðại Tạng Kinh Việt Nam:
Ðể tạo nên một sắc thái đặc biệt cho Ðại Tạng
Kinh Việt Nam, Hội đồng chỉ đạo Phiên dịch và ?ng hành Ðại Tạng Kinh Việt Nam
dự tính trong tương lai không xa, khi có Hàn lâm viện Việt Nam hay Hàn lâm
viện Phật giáo Việt Nam, các bản kinh Việt Nam sẽ phải được tân tu để tu chỉnh
các sai sót không thể tránh khỏi, và để thống nhất các từ ngữ. Hội đồng cũng
dự tính khi số nhân sự của Hội đồng được tập hợp đông đảo, khi có thời gian
rộng rãi hơn, Hội đồng sẽ cho ra mắt các tập chú giải và từ vựng cho từng bộ
Kinh để giúp các Phật tử Việt Nam không gặp các khó khăn về thuật ngữ Phật
giáo trong việc đọc và hiểu Ðại Tạng.
Trong thời gian đi sâu vào công tác phiên
dịch, hiệu đính và in ấn, Hội đồng Chỉ đạo đã phát hiện ra nhiều vấn đề dịch
thuật, in ấn của Hán bản, Pali bản và Anh bản cần được bàn thảo. Về bản dịch
Việt ngữ cũng thế. Các vấn đề ấy sẽ được đề cập đến trong các tập chú giải và
từ vựng nói trên. Mong rằng quí Phật tử hoan hỉ và kiên nhẫn chờ đợi.
Ði vào thực tế công tác, Hội đồng Chỉ đạo
Phiên dịch cũng công nhận ra rằng công tác hình thành Ðại Tạng Kinh Việt Nam
cần phải trải qua nhiều thập niên. Công tác ấy sẽ được tiến hành thuận lợi và
tốt đẹp nếu Giáo hội quan tâm đúng mức đến các Phật sự sau đây:
1. Tổ chức giáo dục tốt các cấp Phật học: Cơ
bản, Cao cấp và Hậu đại học để đào tạo nên nhiều thế hệ Tăng, Ni giỏi Phật
học có thể đảm trách công tác phiên dịch và tân tu Ðại Tạng.
2. Ðầu tư một số chư Tăng, Ni học chuyên sâu
Anh ngữ, Hán ngữ, Pali ngữ, Phạn ngữ, Tây Tạng ngữ, Nhật ngữ, và chuyên sâu
dịch thuật.
3. Thành lập một thư viện Phật học có tầm cỡ
và một cơ sở làm việc tiện nghi cho Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Hội
đồng Phiên dịch Ðại Tạng Kinh Việt Nam.
Cái
khó trong các Phật sự luôn luôn bó lấy cái khôn của chúng ta, nhưng đồng thời
cũng làm ló ra cái khôn cho chúng ta. Cái khó khăn sẽ mở ra cho chúng ta một
hướng mới của sáng kiến và các vận dụng thiện xảo. Chúng ta sẽ cảm thấy hân
hoan và khích lệ biết bao khi nhìn thấy các bản kinh Việt ngữ đang làm phong
phú văn hóa Phật giáo và văn hóa Dân tộc.
Thế giới ngày nay đang đối mặt với các khủng
hoảng lớn về môi sinh và xã hội. Các nhà văn hóa, tư tưởng, tôn giáo thế giới
đang hướng về phương Ðông để tìm kiếm những giải pháp cho thời đại, mà Phật
giáo là niềm hy vọng lớn nhất. Nếu thiên nhiên đem lại mùa xuân cho cây cỏ,
thì Phật giáo sẽ là niềm hy vọng đem lại niềm tin cho cuộc đời. Chúng ta hãy
thắp sáng niềm hy vọng ấy với quyết tâm hộ trì Ðại Tạng Kinh Việt Nam.
Thích
Chơn Thiện
Sài gòn, mùa Xuân 1992