
![]()
![]()
Có nhiều nguyên tắc để phân định thế nào là một vị Bồ Tát, hay một vị Đại Thiền Sư. Dưới đây, thử theo hai hệ thống, một đă ghi lại trong Kinh Điển của Đức Phật, về những vị Phật hay Bồ Tát trong tương lai, và một là sự sưu tầm và đúc kết của một tâm lư gia Tây phương đă đi tầm học Đạo nhiều nơi, ghi nhận lại để giúp người sau khỏi lầm lạc trong khi đi tầm Minh Sư, đó là quyển "How to choose a Guru" của Rich M.Chapman.
A. THẾ NÀO LÀ MỘT VỊ BỒ TÁT TRONG KINH PHẬT ?
Những lời dạy bảo cuối cùng và cao thượng nhất của Đức Phật là :
"Tất cả những người nào ... tự làm ngọn đèn soi sáng cho ḿnh, tự làm chỗ nương tựa cho ḿnh, không t́m một chỗ nương tựa nào khác ngoài chính ḿnh ra, mà can đảm coi Chơn Lư là ngọn đuốc ... không t́m một chỗ nương tựa nào ở người khác - những người đó sẽ lên cái bực tối cao ! Nhưng những người đó phải lo học hỏi hoài mới được !"
Đó là lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật, cũng là lời báo trước sẽ có những vị Phật vị lai, những vị Bồ Tát sẽ ra đời để tiếp tục con đường của Ngài đi hầu phổ độ chúng sanh. Ngài cũng biết trước là chúng sanh sẽ lầm lạc, và chánh pháp ngày sẽ càng bị rời xa, nên nhắc nhở đồ đệ cố tâm tu học, và phải "tự làm ngọn đèn soi sáng cho chính ḿnh, coi Chơn Lư là ngọn đuốc ".
Ngài Minh Đăng Quang khi chọn pháp danh đă nhuần lời di ngôn của Đức Phật, tên của Ngài là "Ánh Sáng Ngọn Đèn Soi", mà điều Ngài giảng dạy gọi chung là "Chơn Lư". Con đường Ngài đi theo sát bước chân Phật, và Ngài cũng đă giảng rơ về sự suy đồi của Chánh Pháp tại nguồn gốc, khiến hạt giống Phật lại xuất hiện trong những nơi khác.
"Thật vậy, chỗ nào xao động trước là sẽ yên lặng trước mấy chỗ kia, cũng giống như xứ Ấn Độ, đạo Phật mất trước các nước ngoài. Nhưng tuy đạo Phật mất, như nước yên lặng, chớ tại chỗ đó, tam tạng pháp bảo của Tứ Y Pháp vẫn c̣n, cũng như cục đá vẫn c̣n, hay như cây chết, đất bằng, chớ bốn rễ Tứ Y Pháp, hay hột giống chơn như chánh giác vẫn c̣n, và sau này nó mọc lại chỗ khác, một vị Phật ở xứ khác, hay là có lại một đá, người ta liệng ở chỗ khác nữa ... Sự thay đổi phải y như vậy ".
Những lời dạy đó nói lên rằng: đă có nhiều vị Phật hay Bồ Tát xuất hiện từ sau những năm Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, để nối tiếp công tŕnh giảng dạy của Ngài, củng cố và chỉnh đốn Phật Đạo. Chúng ta có may mắn hay không khi có những vị Phật, những vị Bồ Tát xuất hiện trên đất nước ḿnh, và có đáng tin cậy hay cần phải vinh quang các Ngài hay không?
Thế nào là một vị Bồ Tát, trong Kinh Điển ? Theo Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tức là Kinh Đức Phật giảng cho hàng Bồ Tát A La Hán nghe trước khi nhập Niết Bàn, trong đó có ghi lại nhiều tính chất của các vị Bồ Tát (như Bồ Tát Diệu Quang, Bồ Tát Cầu Danh, Văn Thù, Phổ Hiền ..), đồng thời có giải thích một số đặc điểm của hàng Duyên Giác, Thinh Văn , là những bậc có tŕnh độ đă được tham dự nghe giảng Kinh Siêu Thượng Thừa Pháp Hoa. Có thể tóm lược các tŕnh độ trên như sau :
1. Thinh Văn : là cấp bậc đă thanh tịnh lục căn, không ô nhiễm bụi trần, hy sinh gia đ́nh thân thế, tu học để tế độ chúng sanh. Không tham mộ vật chất, sắc dục, không sân hận, không tự cao, không xao động, không vô minh. Như người bay bổng trên không trung, bước chân không c̣n dính bụi trần, là người ở trong giới Phật, không hề sa ngă. Đây là điển h́nh vể tŕnh độ Siêu thượng thừa, phụ tá cho Duyên Giác để phổ biến Đạo Pháp, chú trọng mặt văn chương, triết lư. Chưa đến tŕnh độ bất diệt linh hồn hay thể xác, c̣n chuyển kiếp.
2. Duyên Giác : là cấp bậc đă giác ngộ vào đại định. Là bậc mà sự ăn mặc ở bệnh chẳng cần màng, sống, chết, đến, đi, c̣n, mất, có, không chẳng quản, khổ, vui, lợi, hại, khen, chê chẳng động tâm. Là bậc sống theo thời duyên cảnh ngộ rày đây mai đó ... theo lẽ vô ngă vô thường, cùng là nhơn, pháp, không ta. Bậc này là kẻ khổ hạnh, có nhiệm vị đi giác ngộ, cảm hóa, kết duyên cùng chúng sánh, để sau nầy hóa độ. Duyên Giác là vị phước thần, thỉnh thoảng xuất hiện trong thời kỳ không có Như Lai hay Bồ Tát, để đem gương nhắc nhở chúng sanh, kẻ nào thấy gặp được, cũng bằng như gặp Phật. Đây là hàng phụ tá cho cấp bậc Bồ Tát, tùy duyên mà độ chúng. Tŕnh độ duyên giác có thể có khả năng phân thân, xuất hồn, bất diệt linh hồn, nhưng thể xác vẫn có thể chết, hay c̣n chuyển tiếp.
3. Bồ Tát : Đây là tŕnh độ Vua Trời, Vua Người, là bậc Tổ sư Giáo chủ. Có thể xem Bồ Tát là hàng phụ tá, hay đặc sứ của Chư Phật, thay mặt Phật, lănh nhiệm vụ sứ mệnh xuống dẫn độ một số đông chúng sanh. Ngài có tŕnh độ tương đương như Chư Phật. Đă giác ngộ, đắc thần thông. Ngoài khả năng Trí Huệ siêu diệu, thông suốt lẽ huyền vi của Vũ Trụ. Ngài là bậc Đại Từ, Đại Bi, Đại Dũng. Những thần thông của Ngài rất cao siêu, nhưng không phải lúc nào cũng biểu lộ, mà chỉ tùy duyên hóa độ hoằng pháp. Có thể tạm kể những đặc điểm :
Có Trí Huệ phi thường ngoài sự ước lượng của người phàm trần. Giảng, giải, đáp, ứng, đốn, tiệm ... tất cả những ǵ liên quan đến Đạo, Pháp, Lư, hay hầu như mọi vấn đề.
Biết trước và tiên đoán được rất nhiều vấn đề, kể cả sự mất c̣n hay biến chuyển của bản thân ḿnh hay người khác, hay vận mệnh cả dân tộc chúng sanh.
Thoát khỏi mọi nghiệp lực, chỉ hoằng pháp theo sứ mạng, nhưng không c̣n chút tham vọng sở cầu ǵ cả.
Có khả năng phân thân hóa thân theo ư chí (decompose, recompose atoms), v́ bản thể đă vượt ngoài ngũ hành tứ đại. Có thể xuất hiện ở nhiều nơi, dưới nhiều dạng thức.
Bất diệt, linh hồn, lẫn thể xác. Làm xong nhiệm vụ là thăng hoa, chỉ tái hồi khi cần thiết. Pháp lực vẫn c̣n tùy theo tầm mức vai tṛ.
Một số Vị Đại Minh Sư đă cho thấy tŕnh độ này, chẳng hạn như Chúa Giê-su Ki-tô, hay Đại Thiền Sư Babaji, hay Đức Huỳnh Phú Sổ, Đức Minh Đăng Quang đều là những người biết trước về vận mệnh của ḿnh, và có giải thích về sự bất diệt.
B. LÀM CÁCH NÀO ĐỂ T̀M MỘT ĐẠI SƯ ?
Nghiên cứu qua Kinh Phật có thể chưa làm thỏa măn những đầu óc t́m hiểu khoa học, v́ vậy, dưới đây là một bảng kê rất chi tiết, cụ thể hữu lư về cách t́m biết một vị Đại Sư. Mark M, Chapman, một Tâm Lư gia Hoa Kỳ, nghiên cứu về Siêu H́nh Học và theo học Thiền nhiều năm tại Ấn Độ, trong quyển "How to choose a Guru", đă đưa ra rất nhiều nhận định, và cứ điểm rất rơ ràng, khoa học, về cách thức minh biệt được với của giả. Đây là một sưu tập khoa học đưa ra nhiều khía cạnh hữu lư, thiết tưởng chúng ta nên t́m hiểu để có những nhận định xác thực hơn về cách của một vị Đại Minh Sư, hay gọi bằng tiếng nhà Phật, là một vị Bồ Tát.
Dưới đây là Bảng Tóm lược 50 điểm chính do Mark. M Chapman đưa ra :
1. Không tự xưang, không khoa trương, để cho người khác tự t́m hiểu và tâm phục.
2. Chỉ dẫn con đường hướng về mục đích tối thượng, tức là t́m về Chân Nguyên, Chân Bản Ngă.
3. Minh triết trong lời giảng dạy, cho thấy Trí Huệ và Kiến Thức thực sự, không mơ hồ huyền hoặc.
4. Có kinh nghiệm và hiểu biết về một số những vị Siêu Minh Sư di trước (Đức Phật, Đức Chúa, hay Đức Lăo Tử ...)
5. Có sự viễn kiến, có tiên tri, thông suốt về tâm linh và siêu thức.
6. mẫu mực trong đời sống hàng ngày ( ăn, ngủ, làm việc ... ) nghiêm túc và không luông tuồng, bừa băi.
7. Từ ái dục, t́nh nhân loại rất bao la, có ḷng Từ Bi Bác Ái với muôn loài.
8. Tiến đến sự ḥa đồng trong tôn giáo, trong bất cứ lănh vực nào, đi đến mức tối thượng là sự Hợp Nhứt.
9. Đạt tŕnh độ siêu thức ở vô sắc giới tối cao.
10. Sự hiện diện ở khắp nơi, có khả năng thông linh cùng đồ đệ, hay thần giao cách cảm, hoặc khi có thể xuất hiện nhiều nơi cùng lúc (khả năng phân thân, hóa thân).
11. Phá chấp để giúp cho đồ đệ, cho tín hữu được tiến hóa, tùy theo tŕnh độ.
12. Tuyệt đối không tôn thờ ma quỷ, h́nh tượng, hay khối lực đen.
13. Không có tham dục hoặc sở cầu vào bất cứ điều ǵ, v́ Bản Thể đă ḥa đồng cùng cơi Minh Triết Vô Lượng, chỉ c̣n hiện diện tại thế để giúp đỡ hướg Đạo cho kẻ khác.
14. Không quan tâm đến việc thu đệ tử. lập môn phái, chỉ do duyên lực mà độ, chứ càng nhiều đệ tử càng thêm gánh nặng mà thôi.
15. Ngày nay, "Đại Sư đông như "xe Taxi chở khách" (chữ của Chapman), v́ khó mà kiểm nhận được chân giả, Thiền Sư vốn không có cấp bằng, cũng không thể dựa vào áo mũ,có áo mũ chưa chắc đă là Đại Sư, cho nên chỉ bằng vào sự kiểm nhận và kinh nghiệm thực sự rồi hăy tin.
16. Khi đă tin, đă biết chắc là Đại Minh Sư, th́ sự tôn Vinh Ngài, sự ngợi khen Ngài chính là ca ngợi, vinh quang Thượng Đế (hay Phật).
17. Không ngợi khen lấy ḷng người khác.
18. Trả lời bất cứ câu hỏi nào đặt ra không phân biệt, rất nhanh, như tự động.
19. Có ư tưởng lành, lời nói lành, việc làm lành.
20. Dung mạo phong thái uy nghiêm, thần khí, khoan ḥa.
21. Không tạo ra những ảo tưởng, huyền hoặc cho đồ đệ về bản ngă của họ.
22. Đời sống đạo hạnh, và có phẩm cách trí huệ riêng, không khác ǵ những vị Đại Sư khi xưa.
23. Đại Sư đúng nghĩa phải là Người dạy Đạo.
24. Nếu đă thấy đúng Minh Sư, phải tin theo, đừng quá nhiều nghi ngại có thể bị tŕ trệ.
25. Có khả năng chữa bệnh hoặc một số khả năng siêu linh hay thần thông khác (tùy theo vị).
26. Dạy Đạo phù hợp cùng môi trường và tŕnh độ dân trí.
27. Tuyệt đối không dùng thuốc hoặc các phương tiện bên ngoài để đạt tŕnh độ đại định, siêu linh, hay minh triết.
28. Phải hiểu đường Đạo là chông gai khó đạt chứ không phải dễ dàng theo hay nương cậy vào ai, kể cả vị Đại Sư của ḿnh.
29. Nhân Đạo là nguyên tắc căn bản bắt buộc không thể thiếu sót.
30. Khiêm tốn nhưng không nhún nhường. Khi cần phải nói Chơn Lư sẽ nói trực tâm, có khi thẳng tay phá chấp, chứ không e dè ngần ngại.
31. Nên biết người thầy tâm linh dở rất nguy hiểm.
32. Có duyên sẽ được độ, có khi không cần gặp mặt trực tiếp.
33. Những xứ nổi tiếng là nguồn cung cấp Đại Sư, như Ấn Độ, vẫn sẽ có nhiều Đại Sư. (Xin thêm : Việt Nam là vùng Thánh Địa tương lai, do đó nhiều Đại Sư lần lượt xuất hiện tại đây).
34. Ngày nay con người đạt Đạo rất nhiều và rất nhanh, rút ngắn thời gian tu luyện.
35. Có những ch́a khóa để khai mở trí huệ đột ngột cho đồ đệ, chẳng hạn những câu phá chấp, khai tâm, đốn ngộ.
36. Có sự tiếp dẫn hay thần giao cách cảm giữa Minh Sư và đồ đệ.
37. Liên hệ Sư đồ có khi chỉ diễn ra trong siêu thức.
38. Không cần tuyên truyền quảng cáo rầm rộ.
39. Có thể dẫn dắt nhiều tŕnh độ khác nhau.
40. Thiền định là h́nh thức bắt buộc phải có.
41. Huyền năng không phải dùng để biểu diễn (chỉ cho trẻ con coi, mà nếu có là do sự khám phá hiểu biết của môn đệ khi được kịp gần gũi tiếp xúc).
42. Không nhận tiền bạc để dạy Đạo, Tiền bạc trao đổi ở những dịch vụ khác (chữa bệnh, diễn thuyết, kinh sách ...)
43. Phải có giới luật rơ ràng cho đệ tử tuân hành mà học Đạo.
44. Không dùng kinh nghiệm siêu linh huyền bí để dạy Đạo, mà nói bằng kiến thức siêu khoa học.
45. Toàn hảo về mọi phương diện, tự nhiên phát khởi một Từ Ái lực thu hút người chung quanh.
46. Dạy cho môn đệ luôn luôn nâng cao tŕnh độ về nhiều mặt.
47. Dạy làm cách mạng bản thân để đi đến độ về nhiều mặt.
48. Không mượn lực khác tá túc để dạy Đạo, có thể có những tŕnh độ Nhập Thể cao (Walk-in Channeling, Popularizer...) có khả năng giảng Đạo rất cao, rất thu hút, nhưng vị Đại Minh Sư phải là người tự giác (ngay cả Đức Phật cũng phủ nhận việc thiên khải).
49. Tại sao không giúp đồ đệ giác ngộ tức khắc? V́ điều kiện tiên quyết là phải tự tu tự tiến, phải dọn sạch thân tâm mới có thể tự giác.
50. Con đường Đạo là con đường mà cuộc đời nào rồi cũng sẽ phải đi đến. (Spiritual Path is what life is all about).
Trong số 50 điều trên, Ngài Minh Đăng Quang hội đủ bao nhiêu điều ? Ngoại trừ những điểm số 10, 25, 41, là những điều thuộc bản thân cá nhân sống động, mà phải các đồ đệ ở bên cạnh Ngài mới có thể xác nhận qua kinh nghiệm tiếp xúa trực tiếp, th́ tất cả những điều c̣n lại, đều nằm trọn vẹn trong bộ Kinh Chơn Lư. Những thần thông, huyền nhiệm, tuy chúng ta có thể nghe các môn đồ của Ngài Minh Đăng Quang thuật lại, với khá nhiều mẫu chuyện ly kỳ và cao siêu, thế nhưng đó không phài là phạm vi của quyển sách này. Nhưng chỉ bằng ngần ấy yếu tố trên kia, cũng đă đủ xác nhận vị trí của Ngài Minh Đăng Quang là ở cấp bậc nào rồi !
Một điểm có liên hệ trực tiếp đến chúng ta, tại sao lại phải t́m đọc Chơn Lư, t́m hiểu Minh Sư, và t́m về đường tu. Tất cả đều có lư do hết. Lư do đó, có thể nói nằm trong điều cuối cùng của các điều kiện đi t́m Minh Sư : "Con đường Đạo là con đường mà cuộc đời nào rồi cũng sẽ phải đi đến" (Spiritual Path is what life ia all about).
Điều này không khác ǵ lời dạy Khuyến Tu rất siêu diệu của Ngài Minh Đăng Quang : tu chỉ là con đường tất đi, tất đến, chỉ có sớm muộn mà thôi, theo chu kỳ tiến hóa :
"Hơi khói nhẹ bay lên trên cao, đồ vật thấp nặng nên phải rớt xuống, trong vơ trụ đă có phân chia trên dưới, vậy nên chúng ta phải cần phân biệt, để bỏ cái dưới, bước lên trên, mới là xuôi thuận".
"Đất vốn chẳng cho ai chui xuống, thành thử chúng ta chun xuống hang hố vũng lầy, tức th́ bị ngộp, phải trồi lên, không ở đặng ; con cá kia c̣n ngớp nước, con dế nọ cũng ḅ lên ; mặt đất th́ đặc dẽ, sảng cứng, không cho chân ta lún xuống, c̣n trên cao không gian bao quát, đang ngoắt réo đợi chờ ta, thế mà chúng ta không nên xây lưng, úp mắt vào vách tường đất măi, mà sự thật là ta phải ngó tới, đi tới cái không, cái cao. Tới một ngày kia, chúng ta chết bỏ đi thân tứ đại này, th́ c̣n là một vầng khói bay cao, bay cao lên trên không gian không sở trụ vậy.
(khuyến tu)
Đó là những lời dạy đạo khuyến tu vô cùng minh triết, siêu diệu, không dọa dẫm, không gây mê mờ, chỉ là định luật tự nhiện, chỉ là sự tiến hoá. Đọc xong ta không sao không tự hỏi: "C̣n chần chờ ǵ nữa mà không tu, trước hay sau cũng phải đi theo luật siêu nhiên đó, Chơn lư đó", Người đă hiểu thật sáng và dạy thật rơ những minh triết trên đây, không phải là đại minh sư, là bậc bồ tát, th́ c̣n là ai? Nếu đă nhận chân mà không ca ngợi, không vinh quang Ngài th́ thiếu Bi Trí Dũng, chưa đủ để bước vào Đạo.
Những ǵ mà chúng ta t́m hiểu và học hỏi trên đây, từ quyển Kin hơn Lư của Minh Đăng Quang chỉ mới là một phần nhỏ trong bộ kinh điển bao la của Ngài,là một quyển sách luận bàn nho nhỏ không saoghi lại hết,ở đây tôi không có mục tiêu luận bàn những kiến giải của Ngài, mà chỉ tóm lược lại, xếp đặt lại vào một hệ thống cho rơ ràng, sáng sủa và dễ tiếp thu, dễ hiểu. Không khác nào như một thứ tạm gọi là ch́a khoá, để mở của một kho tàng mà trong kho tàng ấy chứa đựng thật nhiều những ch́a khoá khác nhau, để mở hàng vạn cửa vào một kho tàng bất tận: đó là ĐẠO PHẬT.
Cũng giống như khoảng "16" mà Mark M Chapman nêu ra bên trên "Khi đă tin, đă biết chắc là Đại Minh Sư, th́ sự tôn vinhNGài, sự ngợi khen Ngài chính là ca ngợi vinh quang Thượng Đế hay (Phật), v́ vậy sau khi đọc quyển Chơn Lư tôi có nhu cầu thoi thúc phải thực hiện quyển sách nhỏ này, hoàn toàn không v́ bản thân tôi, mà có thể v́ ḷng ngưỡng phục hay lực từ Ái, hoặc có thể v́ con đường Đạo phải đi, hoặc vả không v́ ǵ hết, mà chỉ là luật tự nhiên phải làm.
Những vị cao nhân thức giả nếu có duyên đọc được quyển sách nhỏ này, và có duyên t́m được bộ Kinh Chơn Lư, phá được cái chấp h́nh tướng, có thể sẽ t́m ra ÁNH SÁNG MINH ĐĂNG QUANG, Và chừng đó, ắt sẽ có tấm ḷng như kẻ viết sách này, bằng tất cả trực tâm và chân lư, không chút ngại ngần mà khẳng định:
"NGÀI MINH ĐĂNG QUANG LÀ HIỆNTHÂN CỦA BỒ TÁT"
Tiến sĩ Lê Trung Trực
Thực hiện: Ngọc Liên