T́m Hiểu Chơn Lư

 

                                 T́m Hiểu Chơn Lư

Phần thứ 19

 

II. TAM GIÁO :

 

Đây có thể xem như bước thứ hai trong hành tŕnh Phá Chấp Ngài đă đưa ra ba Tôn Giáo lớn nhất thời đó, Tam Giáo Phật, Lăo, khổng (gọi là Thích-Đạo-Nho) giải thích và chỉ dẫn phương hướng cho người thời đại có được sự hiểu biết và chọn lựa đúng. Tam giáo quy nhứt cũng được ngài lập luận rơ ràng, tùy duyên, tùy thời mà áp dụng, thực hành, nhưng cuối cùng của tâm linh tiến hóa cũng chỉ đi về một phía : Quy Nguyên nơi Niết Bàn.

Tại sao ngài lại phải phá chấp Tam Giáo, trong khi đường nào cũng có thể đạt đến Chơn Lư ? Điểm này muốn thấu đáo cần phải hiểu nguyên tắc "phá chấp" của một bậc Đại Sư: phá chấp không những là phá vỡ những cái ǵ hiện hữu để thay vào đó những ǵ tốt đẹp hơn, mà phá chấp chính là tạo một lực kích động, phản động mới mạnh mẽ, để giúp người ta thăng hoa hơn, lên một tầng giới cao hơn. Nói rơ hơn, nếu một người vừa ḷng với hoàn cảnh hiện tại ḿnh đang có, hưởng thụ và thỏa măn, sẽ không c̣n tiến bộ, người đó sẽ ù ĺ, bê trễ, dậm chân tại chỗ, bị tha hóa vong thân lúc nào không hay, và ch́m vào trong định luật đào thải (v́ không c̣n tiến hóa), nhất là về mặt siêu linh, sự tiến hóa rất nhanh, tŕ trệ, ngủ quên là phí bỏ công phu, công quả, công tŕnh. Bậc đại sư phá chấp v́ Tâm Từ Bi thương yêu chứ không phải v́ ḷng đố kỵ phân biệt, v́ Trí Huệ muốn dẫn độ soi đường sáng, v́ Dũng Chí mới ra công đạp đổ những bức tường ngăn chặn, giúp chúng sanh tiến lên một bước khác. Đó là hạnh hy sinh lớn, bằng không chúng sanh cũng sẽ tự nhiên học được những bài học về cái khổ, v́ "đau khổ là ân sư", "khảo đảo là bài học", nào có ai thoát khỏi "sanh lăo bệnh tử?" Thế nên, học bài học "Phá chấp" của vị Đại Sư chính là cái duyên để tiến nhanh hơn, thăng hoa nhảy vọt, và giải bớt đau khổ, trược trần, có khi chỉ trong khoảnh khắc, tùy theo duyên cứu độ.

Ngài Minh Đăng Quang v́ vậy đă phá chấp Tam Giáo, v́ ngài đi sát với chiều hướng tâm linh và dân trí địa phương. Ngài nhận thấy rằng, nếu an tâm an phận, và ngủ mê trong sự tin tưởng vào Tam Giáo th́ sẽ ù ĺ, chậm trễ, bỏ lỡ những cơ hội thăng hoa.

Ngài giải thích rất rơ sự thành h́nh, duyên do, bối cảnh, và lănh vực phát triển của ba tôn giáo. Từ đó, có thể phân biệt sự khác biệt cùng mối liên hệ căn bản như sau :

1/ Khác biệt căn bản :

a) Tổng quát :

"Giáo lư của Phật như mặt trời,

Giáo lư của Đức Lăo Tử như mặt trăng,

Giáo lư của Đức Khổng Tử như ngôi sao

Giáo lư của Đức Khổng Tử và Lăo Tử tuy c̣n là lớp tạm, không thật, nhưng giáo lư của Đức Lăo Tử th́ sáng rơ hơn nhiều, cũng như mặt trăng th́ sáng hơn ngôi sao, tuy vậy chớ cũng c̣n đêm tối, chưa sáng rơ như mặt nhựt. Nghĩa là chưa bằng giáo lư giác ngộ của Phật, chỉ rơ tất cả sự thật của ban ngày".

Điều minh định này tuy có quá khẳng khái, nhưng không phải là chủ quan hay xa sự thực. V́, cho tới nay, khi chiều lời dạy của Đức Khổng Tử đă không c̣n thích hợp với nhiều bối cảnh không gian hay thời gian, th́ triết lư Lăo Tử vẫn được thành phần duy tâm linh yêu chuộng và nghiên cứu, trong lúc đó ; giáo lư của Đức Phật th́ chỉ càng ngày càng đúng, càng sáng rỡ như mặt trời, khi nhân loại thấu đáo được Chơn Lư hay các Luật Vũ Trụ, nhờ vào sự tiến bộ của nền văn minh./.

Thực hiện: Ngọc Liên

Xin xem tiê1p phần 20

T́m Hiểu Chơn Lư